Bài Tập Vật Lí 11 Học Kì 2 by on Scribd
Hiển thị các bài đăng có nhãn quang hoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quang hoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019
Nhãn:
bai tap,
bai tap song co,
de thi vat li 2011,
he mat troi,
he so ma sat,
laser,
loxo,
lý thuyết vật lí,
ma sat,
may tinh,
phương pháp vật lí,
quang hoc,
vat li 10,
vatli12
Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2018
Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018
Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018
Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013
Làm thế nào phòng tránh sét?
Cách phòng tránh sét
Sét đánh làm chết khoảng 24.000 người trên thế giới mỗi năm, và khoảng 240.000 người bị thương.
Hàng thập niên sau khi bị sét đánh trúng, những nạn nhân sống sót có
thể vẫn còn chịu những tác động lâu dài. Vì vùng sét đánh có thể mang
hàng nghìn volt trên mỗi foot vuông, nên nạn nhân sống sót bị tổn thương
hệ thần kinh, họ thường gặp những trục trặc liên quan đến nhận thức như
mất trí nhớ, không có khả năng tập trung và thay đổi tính cách.
Hồi năm 1999, Russ Chapman đang đi trong bãi đậu xe ở Littleton, bang
Colorado, Mĩ, thì bị sét đánh ngã văng xuống nền. Kể từ đó, Chapman mất
việc vì ông thường quên giờ đi làm, ăn uống khó khăn và suy yếu sức
khỏe như nhức đầu dữ dội, mất ngủ và bị động kinh. “Tôi biết thực tế
người ta nghĩ tôi lạ lắm,” Chapman phát biểu với NBC News.
Cách tốt nhất để sống sót, tất nhiên, là tránh tia sét đánh trúng. Cơ
quan Giám sát Cứu hộ Liên bang (Mĩ) khuyến cáo mọi người tuân thủ quy
tắc 30/30: Nếu sau khi nhìn thấy tia sét, bạn không thể đếm tới 30 trước
khi nghe tiếng sấm, thì hãy chạy vào trong nhà ngay (vì bão sét đang ở
gần). Và đừng đi ra ngoài cho đến 30 phút sau tiếng sấm rền cuối cùng.
Nhà xưởng, hầm trú ẩn, nhà để xe và những cấu trúc khác không mang
lại sự bảo vệ thật sự và thật ra chúng có thể là mục tiêu cho tia sét.
Hãy tìm một ngôi nhà đích thực với dây kim loại và ống nước tích điện
tránh xa chỗ người ở.
Ở trong xe hơi thì an toàn hơn ở ngoài, nhưng phải là xe có mui và
cửa xe đóng kín chứ không phải xe mui trần. Giàn khung kim loại của xe
sẽ cung cấp lá chắn bảo vệ (miễn là người trong xe không chạm vào bất kì
bộ phận kim loại nào).
Hãy nhớ rằng lốp cao su và giày ủng hầu như chẳng bảo vệ gì cho bạn
trước tia sét. Thật vậy, nhiều nạn nhân của tia sét là những người nông
dân trên đồng trống đang lái máy cày lốp cao su.
Nếu bạn đang ở trong rừng khi có bão sét, thì hãy tìm chỗ trú ở vùng
đất thấp dưới một lùm cây bụi nhỏ. Hãy tránh những cây cao, vì tia sét
có xu hướng đánh vào những vật cao nhất trong vùng.
Nếu bạn đang ở ngoài vùng đồi núi, hãy đi vào vùng đất thấp như thung
lũng hoặc hẻm núi (nhưng nhớ coi chừng lũ quét). Nếu bạn đang ở trên
thuyền ngoài khơi, thì hãy đi vào bờ càng nhanh càng tốt.
Và nếu bạn cảm thấy tóc mình dựng đứng lên, thì điều đó có nghĩa là
tia sét sắp đánh xuống. Phản ứng tốt nhất là nhanh chóng cuộn người xổm
xuống, lấy hai tay bịt tai lại (giảm thiểu chấn thương thính lực) và kẹp
đầu bạn giữa hai đầu gối.
Đừng nằm ưỡn ra trên nền đất – tốt nhất là giảm tối đa tiếp xúc của
bạn với mặt đất, vì điện tích từ tia sét sẽ chạy đi trên đất.
Nếu thấy một người bị sét đánh trúng, thì hãy cấp cứu ngay tức thì –
nạn nhân không mang điện tích và không gây sốc điện hoặc tổn thương cho
bất kì ai.
Một vài con số
Một tia sét tiêu biểu chứa khoảng 300 triệu volt thế điện, hay đủ để
thắp sáng một bóng đèn huỳnh quang compact 100 watt trong một năm – theo
Cục Thời tiết Quốc gia (Mĩ).
Ở nước Mĩ, mỗi năm tia sét làm thiệt mạng khoảng 100 người và làm bị
thương khoảng 1.000 người, theo Cục Hải dương và Khí quyển Quốc gia
(Mĩ).
Cơ quan Giám sát Cứu hộ Liên bang (Mĩ) ước tính xác suất bạn bị sét
đánh trúng ngay lúc này là 1/600.000. Trong hơn 100 năm qua, tỉ lệ người
bị sét đánh đã giảm đáng kể, vì ngày càng có ít người làm việc ngoài
đồng trống.
Florida là bang bị sét đánh nhiều nhất ở Mĩ, chết chóc và bị thương
do sét cũng nhiều hơn ở bang khác; Cục Hải dương và Khí quyển Quốc gia
(Mĩ) ghi nhận trung bình có khoảng 1,4 triệu tia sét ở Florida mỗi năm.
Bang California ở Mĩ mặc dù rộng lớn nhưng chỉ hứng trung bình khoảng
85.000 tia sét mỗi năm, chủ yếu là do thời tiết duyên hải điều hòa ở
bang này.
Và không có nơi nào trên thế giới bị sét đánh nhiều hơn ở miền trung
châu Phi: Chỉ một thị trấn nhỏ ở đây – ngôi làng Kifuka nhỏ xíu ở nước
Cộng hòa Dân chủ Congo – bị sét đánh khoảng 158 lần mỗi năm.
Theo Marc Lallanilla (LiveScience)
Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013
8 nơi lạ lùng nhất trong hệ mặt trời
Quay ngược
Tất cả các hành tinh trong hệ mặt trời đều quay cùng chiều với hướng
mặt trời quay – ngược chiều kim đồng hồ, đối với nhà quan sát ở trên bán
cầu bắc của Trái đất. Tương tự như vậy, tất cả các vệ tinh lớn trong hệ
mặt trời đều quay theo những quỹ đạo cùng hướng xung quanh hành tinh
chủ tương ứng của chúng, tuân theo hướng chuyển động quay hành tinh, với
một ngoại lệ: đó là Triton. Vệ tinh lớn nhất của Hải Vương tinh có quỹ
đạo quay ngược: nó chuyển động ngược chiều với hướng quay của hành tinh
khí khổng lồ này. Một số nhà nghiên cứu cho rằng Triton có lẽ đã không
chào đời tại Hải Vương tinh, mà thay vào đó nó có thể là tàn dư của một
hệ đôi hành tinh lùn bị bắt giữ bởi lực hấp dẫn của Hải Vương tinh, tống
khứ thành phần còn lại kia của hệ đôi Triton ra xa trong quá trình đó.
Ảnh chụp Hải Vương tinh cùng Triton ở trên là từ phi thuyền Voyager 2,
phi thuyền đã đi qua hệ Hải Vương tinh vào năm 1989.
Sức mạnh khủng khiếp
Quái vật bụi sao Hỏa rất xứng với danh hiệu “máy hút chân không mạnh
nhất trong hệ mặt trời” trong quyển sách mới của David Baker và Todd
Ratcliff – 50 nơi lạ lùng nhất trong hệ mặt trời của chúng ta.
Nhờ áp suất thấp và lực hấp dẫn bề mặt trên sao Hỏa, những xoáy bụi vút
lên cao hơn nhiều so với tornado trên mặt đất chúng ta – chúng có thể
đạt tới độ cao của đỉnh Everest với những cơn cuồng phong vượt quá tốc
độ 300 km/h, theo Baker và Ratcliff.
Lớp vỏ đang co lại
Thủy tinh, hành tinh trong cùng nhất, bị bao phủ bởi những diện mạo
địa chất gọi là các vách thùy, một dạng đặc điểm kiểu bậc thang do sự
nén ép tạo ra. Một vách cong có thể nhìn thấy ở chính giữa bức ảnh chụp
trên. Sự phân bố toàn cầu của chúng trên Thủy tinh gợi ý rằng toàn bộ
hành tinh này đã và đang co lại, có lẽ đến 6 km đường kính trong quãng
đời của nó, khi nhân của nó nguội đi – và quá trình trên có thể vẫn đang
tiếp diễn. Những quan sát mới đây cho biết mặt trăng của Trái đất có lẽ
đã co lại qua một cơ chế tương tự cách đây một thời gian tương đối
ngắn, nhưng ở cấp độ nhỏ hơn nhiều.
Thích nhào lộn
Hyperion, một trong nhiều vệ tinh của sao Thổ, là một vật thể hình
thù kì dị như tổ ong với mật độ quá thấp – khoảng một nửa mật độ của
nước – nên nó phải hết sức xốp, về cơ bản là một cái bọt biển dài 400 km
mà thôi. Và không giống như các vật thể lớn trong hệ mặt trời có chu kì
quay rõ ràng, thí dụ như Trái đất có chu kì quay là 24 giờ, chuyển động
quay của Hyperion là mang tính hỗn độn. Nếu ai đó sống trên vệ tinh
hình quả bóng hay nhào lộn này, thì việc lập kế hoạch tuần sẽ hết sức
khó khăn – vì chiều dài mỗi ngày Hyperion biến đổi thất thường.
Nơi hôi thối nhất hệ mặt trời
Theo quyển sách của Baker và Ratcliff, Io rất xứng với danh hiệu “nơi
hôi thối nhất trong hệ mặt trời”. Vệ tinh lớn thứ ba của Mộc tinh này
đối với chúng ta sẽ ngửi có mùi trứng thối, do các núi lửa đang hoạt
động của nó – mang lại hàm lượng sulfur cao. Kết quả là bề mặt băng giá
của vệ tinh trên và khí quyển của nó giàu chất sulfur dioxide mùi hăng
cay cũng như hydrogen sulfide, chất mang lại mùi đặc trưng khó ngửi.
Những cơn mưa methane
Bạn cần một hầm trú ẩn ư? Titan không phải là nơi thích hợp nhất đâu.
Nó là vệ tinh quay xung quanh Thổ tinh, nhưng có quá nhiều nhiên liệu
hydrocarbon, khiến vệ tinh sao Thổ này rất xứng với danh hiệu “bể nhiên
liệu tốt nhất”. Titan có chu trình hydrocarbon na ná như chu trình nước
của Trái đất, kết thúc với những cơn mưa methane, sương hydrocarbon và
những hồ methane và ethane lỏng lỗ chỗ trên bề mặt, thí dụ như các hồ
trong bức ảnh trên do phi thuyền Cassini chụp.
Núi khổng lồ
Đỉnh Everset có là là ngọn núi cao nhất – và là đỉnh cao danh vọng
nhất – trên Trái đất, nhưng ở độ cao 8850 mét, nó chẳng có chút gì là
đỉnh núi cao nhất trong hệ mặt trời. Vinh quang đó thuộc về ngọn Olympus
trên sao Hỏa, một ngọn núi đường kính hơn 600 km (cỡ bằng bang Arizona
của Mĩ) và tính đến đỉnh nó cao 27 km, cao gần ba lần đỉnh Everest.
Lắp khít vừa vặn
Nhật thực toàn phần là một sự kiện hiếm gặp trên Trái đất, nhưng nó
còn hiếm hơn nữa trong ngữ cảnh quy mô hệ mặt trời. Chỉ ở trên Trái đất
thì sự phối hợp giữa kích thước, hình dạng và khoảng cách của mặt trăng
và mặt trời mới cho phép một vật thể (mặt trăng) chặn hết ánh sáng của
vật thể kia (mặt trời) hầu như khít hoàn toàn. Thực tế đó còn bất ngờ
hơn khi biết rằng Trái đất chỉ có mỗi một mặt trăng. Mộc tinh và Thổ
tinh cso hệ thống vệ tinh nhiều hàng tá, nhưng đa phần vệ tinh của chúng
nhìn từ chúng chỉ che đi một phần của mặt trời, về cơ bản là mang lại
nhật thực một phần. Ở Thiên Vương tinh và Hải Vương tinh xa xôi hơn, vấn
đề thường xảy ra ngược lại – các vệ tinh chặn hết toàn bộ mặt trời và
sau đó là một phần. Hai trong số các vệ tinh của Thổ tinh, Prometheus và
Pandora, có kích thước và khoảng cách gần như thích hợp để mang lại một
nhật thực toàn phần, nhưng cả hai vật thể thuôn dài này không lắp khít
với hình dạng của mặt trời.
Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013
7 điều thiết yếu người công dân vũ trụ nên biết
Năm phần sáu của vũ trụ hiện vẫn đang còn thiếu. Phát biểu như thế
viết ra thật lạ, nhưng tôi dám chắc người đọc còn cảm thấy lạ hơn. Biết
rằng vũ trụ mênh mông và con người chỉ mới thám hiểm một phần hết sức
nhỏ bé của nó, làm thế nào chúng ta biết chắc chắn rằng có cái gì đó còn
chưa đủ? Khẳng định như thế nghe rất ngạo mạn, chứ không hề ảo tưởng.
Tuy nhiên, cho đến nay, các nhà khoa học đã kết luận gần như chắc
chắn rằng phần lớn vật chất trong vũ trụ bao gồm vật chất tối, một chất
liệu vừa thực chất không nhìn thấy và khác căn bản về thành phần với các
nguyên tử quen thuộc cấu tạo nên các sao và hành tinh. Trước muôn vàn
khó khăn, các nhà nghiên cứu như Samuel Ting ở MIT còn tiến tới chỉ rõ
vật chất tối là cái gì, khi bằng chứng giật tít các trang báo hồi tuần
trước [bài báo này đăng ngày 08/4/2013 – ND]. Đã đến lúc để nói lên thực
tại mới về vị thế của chúng ta trong vũ trụ. Dưới đây là 7 điều thiết
yếu mà mỗi công dân của vũ trụ nên biết.
1. Vật chất tối là có thật. Bằng chứng cho vật chất tối xuất
hiện trong một bài báo công bố bởi nhà thiên văn học người Thụy Sĩ Fritz
Zwicky vào năm 1933 – chưa tới một thập niên sau khi Edwin Hubble
chứng minh rõ ràng sự tồn tại của những thiên hà khác. Zwicky lưu ý rằng
các thiên hà trong các đám thiên hà đang chuyển động nhanh đến mức các
đám thiên sẽ bay ra xa nhau, tuy nhiên các đám thiên hà vẫn không thay
đổi gì. Ông kết luận rằng phải có một chất liệu gì đó (vật chất tối)
phân bố trong các đám thiên hà, cung cấp lực hút hấp dẫn bổ sung để giữ
vạn vật lại với nhau. Lúc ấy, đa số đồng nghiệp của Zwicky xem bằng
chứng đó là quá suy đoán, và quan điểm quá xa lạ, để mà tin tưởng. Vào
thập niên 1970, nhà thiên văn học người Mĩ Vera Rubin đã tẩy não của họ
với loại quan sát giống như vậy được tiến hành chi tiết hơn nhiều. Bà
tìm thấy rằng các thiên hà quay có hệ thống nhanh đến mức chúng sẽ bay
ra xa nhau trừ khi được giữ lại bởi vật chất tối – hay trừ khi kiến thức
của chúng ta về lực hấp dẫn là sai. Gần đây hơn, các nhà thiên văn vật
lí đã cho chạy những chương tình mô phỏng tinh vi trên máy tính của sự
hình thành thiên hà. Những mô hình này ăn khớp tuyệt vời với cấu trúc
quan sát được của vũ trụ, nhưng chỉ khi họ bao gộp cả vật chất tối vào
trong các phương trình.
Có hai hướng bằng chứng khác ủng hộ mạnh cho vật chất tối. Một đến từ
các quan sát sự hội tụ do hấp dẫn, sự bẻ cong ánh sáng do lực hấp dẫn.
Các nhà thiên văn có thể lập bản đồ thô của sự phân bố vật chất trong
các đám thiên hà bằng cách quan sát cách chúng làm biến dạng ánh sáng
của những thiên hà ở xa hơn. Những bản đồ này không những xác nhận sự có
mặt của những lượng lớn vật chất tối, mà chúng còn cho thấy vật chất
tối chuyển động độc lập với chất khí nóng trong đám thiên hà, cái mà
những lí thuyết thay thế của lực hấp dẫn không dễ dàng gì giải thích
được. Một hướng bằng chứng nữa, hoàn toàn độc lập, đến từ các nghiên cứu
bức xạ nền vi sóng vũ trụ, bức xạ tàn dư từ thời Big Bang. Sự phân bố
của bức xạ đó trên bầu trời rất nhạy với thành phần chính xác của vũ trụ
sơ khai. Hình ảnh phân bố quan sát được cho phép thực hiện một phép đo
rất chính xác của thành phần của chúng ta, như tôi từng mô tả trước đây,
trong đó vật chất tối nặng gấp vật chất nhìn thấy theo tỉ số 5,5 : 1.
Cả ba loại quan sát không những thể hiện bằng chứng của vật chất tối, mà
chúng còn cho biết lượng vật chất bằng nhau. Đó là cái hết sức thuyết
phục.
2. Vật chất tối thỉnh thoảng có thể nhìn thấy được. Nghe có vẻ
như mâu thuẫn với toàn bộ những gì tôi vừa nói, nhưng tôi sẽ giải
thích. Vật chất tối có vẻ không tương tác với ánh sáng hay bất kì dạng
nào khác của bức xạ điện từ (vô tuyến, tia X, vân vân), nhưng có lẽ nó
có thể tương tác với chính nó. Một trong những lí thuyết hàng đầu của
vật chất tối cho rằng nó gồm những hạt sơ cấp gọi tắt là WIMP (hạt nặng
tương tác yếu) có thể hủy lẫn nhau nếu chúng va vào nhau. Trong không
gian vũ trụ mênh mông, các hạt không va chạm thường xuyên lắm nhưng thi
thoảng chắc hẳn sẽ xảy ra va chạm. Nếu hai hạt WIMP hủy lẫn nhau, chúng
có thể tạo ra bức xạ nhìn thấy được ở dạng tia gamma; hoặc chúng có thể
giải phóng những loại hạt quen thuộc hơn, ví dụ như các electron và đối
hạt phản vật chất của chúng, positron.
Thật vậy, hai thí nghiệm trên không gian vũ trụ hiện đang tìm kiếm cả
hai tín hiệu, và đều tìm thấy một số dấu hiệu hấp dẫn của cái gì đó lạ
lẫm đang diễn ra trong không gian sâu thẳm. Kính thiên văn vũ trụ tia
gamma Fermi của NASA đã thu được một lóe sáng cực kì mờ nhạt nhưng khác
lạ của tia gamma có một năng lượng rất đặc trưng: 130 giga-electron volt
(GeV), hay khoảng 60 tỉ lần năng lượng của ánh sáng nhìn thấy. Tín hiệu
trông rất giống với sự phân hủy của một hạt vật chất tối, nhưng
Christoph Weniger thuộc Viện Vật lí Max Planck cảnh giác rằng bằng chứng
hiện nay có thể còn mơ hồ. Những gợi ý khác của vật chất tối đến từ
Samuel Ting và thí nghiệm Từ Phổ kế Alpha,
AMS, trị giá 2 tỉ USD trên Trạm Vũ trụ Quốc tế. Đó chính là thí nghiệm
đã gây đình đám hồi tuần trước. AMS đang thu được một sự dư thừa chút ít
positron đến từ mọi hướng của bầu trời, cái một lần nữa khớp với sự có
mặt của vật chất tối nhưng chưa hoàn toàn thuyết phục. Vẫn chờ có thêm
nhiều kết quả nữa; Ting cho biết sẽ mất thêm “vài ba năm nữa” mới có đủ
dữ liệu để kết luận chắc chắn.
3. Vật chất tối có thể hiện thân trên Trái đất này. Trên lí
thuyết, mọi lúc chúng ta đang bơi trong vật chất tối. Vì vật chất tối
thụ động như thế, nên phần lớn thời gian nó lướt qua và không ai trên
mặt đất này có cảm nhận gì về nó. Nhưng bắt đầu vào thập niên 1990, một
số nhà vật lí táo bạo (hay điên rồ, tùy theo quan điểm của bạn) đã quyết
định thử dò tìm các hạt vật chất tối khi chúng đi qua. Quan điểm là vào
những dịp rất hiếm, một hạt vật chất tối có thể va chạm với một nguyên
tử vật chất bình thường, gây cho nó một cú hích. Có hích đó có khả năng
phát hiện được dưới dạng một tín hiệu nhiệt: một liều nhiệt hết sức nhỏ.
Một vài thí nghiệm theo xu hướng này đã khẳng định những dấu hiệu trêu
ngươi của các tín hiệu vật chất tối. Những kết quả nổi tiếng nhất đến từ
detector có tên gọi là là DAMA, viết tắt cho DArk MAtter. Tuy nhiên,
ngoài những người tin tưởng tuyệt đối, chẳng ai xem những kết quả này là
có sức thuyết phục. Một thí nghiệm mới gọi là LUX sẽ làm sáng tỏ tình
huống này. “Độ nhạy (của nó) tốt hơn nhiều so với các thí nghiệm dò tìm
trực tiếp trước đây,” phát biểu của nhà nghiên cứu chính của thí nghiệm
LUX, Richard Gaitskell thuộc trường Đại học Brown. Vào lúc LUX hoàn tất
đợt chạy trọn vẹn đầu tiên của nó vào năm 2015, Richard hi vọng nó sẽ là
“một thí nghiệm rất rõ ràng”.
4. Chúng ta có thể tạo ra vật chất tối của riêng mình. Đó là
một trong những mục tiêu lớn dành cho Máy Va chạm Hadron Lớn (LHC) nhiều
tham vọng tại CERN: sản xuất vật chất tối trong phòng thí nghiệm để các
nhà khoa học có thể nghiên cứu nó. Cơ sở cốt lõi của LHC là cho các hạt
lao vào nhau để chúng không còn biểu hiện sự bình lặng và yên ả của vật
lí học hàng ngày nữa. Về căn bản, những lượng năng lượng khổng lồ tạo
ra tại LHC có thể tự phát chuyển hóa thành những hạt đa dạng (khối lượng
và năng lượng là tương đương nhau – bạn còn nhớ công thức e = mc2
chứ?). Đó là cách các nhà vật lí tại LHC (có lẽ) đã tìm thấy boson
Higgs. Nếu các hạt WIMP có cùng cỡ khối lượng như các nhà lí thuyết dự
đoán, thì LHC cũng sẽ tạo ra chúng. Những hạt vật chất tối như thế sẽ
khó lần ra do bản chất hay lảng tránh của chúng. Chúng có xu hướng bay
ngay ra khỏi detector, không nhìn thấy được, và vì thế thoạt trông sẽ
biểu hiện sự thiếu hụt năng lượng trong các phản ứng LHC: Thêm một cái
bóng để rượt đuổi. Tuy nhiên, nếu các hạt WIMP thật sự có mặt ở đó, thì
các nhà nghiên cứu dày dạn kinh nghiệm và các máy vi tính khổng lồ sục
sạo dữ liệu thu từ LHC sẽ có thể tìm thấy chúng khi cỗ máy va chạm khởi
động trở lại vào năm 2015.
5. Vật chất tối là cái hoàn toàn khác với năng lượng tối. Vào
năm 1998, hai đội vũ trụ học cạnh tranh nhau đều phát hiện ra sự giãn nở
của vũ trụ đang tăng tốc. Lực gây ra sự giãn nở vũ trụ ngày nay được
gọi là “năng lượng tối”, một thuật ngữ do Michael Turner tại trường Đại
học Chicago đặt ra để đối ứng với vật chất tối (và thỉnh thoảng bị nhầm
lẫn). Cả hai đều tối theo nghĩa là chúng không nhìn thấy được, và cả hai
đều tối theo nghĩa là chúng bí ẩn. Nhưng vật chất tối có vẻ như gồm một
loại hạt nào đó, và nó tác dụng một lực hút hấp dẫn có xu hướng mang
vạn vật đến gần nhau: nó kết dính các thiên hà và đám thiên hà, và có
thể cung cấp lực hút bổ sung cho phép những cấu trúc này được tạo ra lúc
ban đầu. Mặt khác, năng lượng tối thì ít được hiểu hơn vì nó có vẻ là
một dạng năng lượng thấm đẫm vào cấu trúc của không gian, và nó lực một
lực đẩy – gần giống như lực phản hấp dẫn – trên những cự li thật xa. Khó
hiểu hơn nữa, năng lượng tối có tương đương khối lượng (nếu bạn không
nhớ công thức e = mc2 thì lúc này nên nhớ lại là vừa) và khi bạn cộng gộp toàn bộ khối lượng đó, thì năng lượng tối là thành phần át trội của vũ trụ.
6. Chất liệu tối thật sự át trội. Dựa trên những quan trắc mới
nhất từ đài thiên văn Planck, vũ trụ gồm 68,3% năng lượng tối, 26,8%
vật chất tối, và 4,9% vật chất bình thường. Một viễn cảnh u ám: Hơn 95%
vũ trụ là tối tăm và về cơ bản không thể quan sát được, phần lớn vũ trụ
không bao gồm vật chất, và phần lớn vật chất không bao gồm những nguyên
tử giống như những nguyên tử cấu tạo nên bạn và tôi. Bạn có thấy vô vị
không?
7. Vũ trụ tối có thể có một cuộc sống của riêng nó. Hồi vài
năm trước, Savas Dimopoulos thuộc trường Đại học Stanford cho rằng vật
chất tối có thể tạo ra những nguyên tử tối tạo ra ngành hóa học tối của
riêng chúng. Neal Weiner tại trường Đại học New York còn tiến xa hơn với
việc nêu vấn đề làm thế nào người ta có thể tìm thấy một nhà khoa học
giả thuyết được cấu tạo bởi vật chất tối trong vũ trụ nhìn thấy (tất
nhiên vũ trụ đó là không thể nhìn thấy đối với anh ta). Câu trả lời là
chuyện đó không dễ dàng gì. Và mới đây thôi, một nhóm nhà vật lí
Harvard, đứng đầu là JiJi Fan và Lisa Randall, đã lí thuyết hóa rằng một
vật chất tối nào đó có thể lạnh đi và co lại giống hệt như khí hydrogen
bình thường hành xử, dẫn tới khả năng có những thiên hà tối, và có lẽ
cả những ngôi sao tối và hành tinh tối.
Lúc này chẳng ai biết cả. Có lẽ những quan điểm này chỉ là trí tưởng
tượng bay xa, nhưng chúng lại khớp với cái chúng ta đang hiểu về sự vận
hành của vũ trụ. Thật vậy, chúng được hậu thuẫn bởi một số quan trắc tốt
nhất hiện nay. Douglas Finkbeiner, một nhà thiên văn vật lí tại
Harvard, rất hăng hái với loại nghiên cứu này. Ông nói: “Mỗi sáng mai
thức dậy, mỗi người chúng ta nên nghĩ ngợi xem vật chất tối là cái gì.”
Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011
Vì sao mặt trăng lúc nguyệt thực trông có màu đỏ?
Trong thời gian nguyệt thực, bạn sẽ thấy cái bóng của Trái đất từ từ quét qua bề mặt của mặt trăng. Cái bóng đó xuất hiện có màu sẫm tối, giống như miếng bánh bích quy đã bị cắn một miếng, cho đến khi cái bóng hoàn toàn che hết mặt trăng. Sau đó, trong thời khắc ngoạn mục của sự che khuất toàn phần, cái bóng trên bề mặt mặt trăng thường bất ngờ thay đổi. Thay vì tối đen, nó lại chuyển sang đỏ. Tại sao vậy?
Nguyên do là vì không khí mà chúng ta thở. Nếu Trái đất không có khí quyển, thì cái bóng của Trái đất trên mặt trăng lúc nguyệt thực sẽ có màu đen. Sự có mặt của khí quyển Trái đất có nghĩa là, trong thời gian nguyệt thực, ánh sáng mặt trời khúc xạ và bị lọc qua khí quyển của Trái đất rọi lên trên mặt trăng. Ánh sáng mặt trời đã bị lọc này làm cho mặt trăng trông có màu đỏ trong lúc nguyệt thực toàn phần.
+ Phóng to hình
Nguyệt thực ngày 3 tháng 3 năm 2007. Ảnh: Joshua Valcarcel. (Wikimedia Commons)
Nhưng màu đỏ không phải là màu duy nhất của mặt trăng lúc nguyệt thực toàn phần. Mặt trăng nguyệt thực có thể có màu nâu, đỏ, cam hoặc vàng. Màu sắc phụ thuộc vào sự có mặt của bụi và những đám mây trong khí quyển của Trái đất. Nếu như vừa có một đợt phun trào núi lửa, chẳng hạn, thì cái bóng trên mặt trăng sẽ trông tối đen lúc nguyệt thực. Hồi tháng 12 năm 1992, không bao lâu sau sự phun trào của núi lửa Pinatubo ở Philippines, trong khí quyển của Trái đất có quá nhiều bụi bặm nên mặt trăng nguyệt thực toàn phần hầu như không thể nhìn thấy.
Vậy người ta có thể biết trước mặt trăng sẽ trông đỏ như thế nào trong một lần nguyệt thực toàn phần hay không? Không biết chính xác đâu. Trước khi nguyệt thực xảy ra, bạn thường nghe người ta nói về điều đó. Tuy nhiên, không ai biết chắc chắn mặt trăng sẽ trông đỏ như thế nào khi thời khắc nguyệt thực xảy đến. Sự không chắc chắn đó một phần là thú vui của sự chiêm ngưỡng nguyệt thực. Và người ta vẫn mong có mặt trăng đỏ trong lúc nguyệt thực toàn phần.
Nhãn:
12a2,
12a2 quang trach,
bai tap,
hoc tap,
nguyet thuc,
nhat thuc,
phương pháp vật lí,
quang hoc,
so 4 Quang Trach,
so4,
so4 quang trach,
thien ha,
trai dat,
vatli12,
vật lí
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
