Hiển thị các bài đăng có nhãn tu dien vat li. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tu dien vat li. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020
Thứ Hai, 21 tháng 10, 2019
Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019
Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018
Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015
Thuyết tương đối rộng tròn 100 tuổi
Viết bởi Trần Nghiêm
Thứ sáu, 13 Tháng 3 2015 13:43
Lí thuyết tương đối rộng của Albert Einstein ngày càng khẳng định vị thế đàn anh của nó sau một thế kỉ trình làng.
Lí thuyết tương đối rộng, được Einstein công bố vào năm 1915, vẫn là
nền tảng cho sự nhận thức của các nhà khoa học về nguồn gốc và sự tiến
hóa của những phần còn lại của vũ trụ. Nó tiếp tục truyền cảm hứng cho
người ta nghiên cứu một số câu hỏi cơ bản nhất chưa được trả lời trong
vật lí học và trong thiên văn học.
Lí thuyết tương đối rộng “hiện nay, theo tôi, được chấp nhận rộng rãi
là nền tảng cho mô tả của chúng ta của vũ trụ vĩ mô, cái chúng ta gọi
là vũ trụ học; của các lỗ đen, của sao neutron và của những hiệu chỉnh
nhỏ cho quỹ đạo của các hành tinh và phi thuyền vũ trụ trong hệ mặt trời
của chúng ta,” phát biểu của Roger Blandford thuộc Viện Thiên văn Vật
lí Hạt cơ bản và Vũ trụ học Kavli tại Đại học Stanford.
Lí thuyết tương đối
rộng Einstein tiên đoán rằng các vật thể khối lượng lớn làm uốn cong
không-thời gian xung quanh chúng. Phi thuyền Gravity Probe B của NASA đã
tìm thấy không-thời gian xung quanh Trái đất thật sự bị uốn cong bởi
hành tinh của chúng ta, và bị xoắn bởi chuyển động quay của nó. Ảnh:
NASA
Bản chất của lực hấp dẫn
Thuyết tương đối rộng bổ sung thêm lực hấp dẫn cho thuyết tương đối
hẹp, lí thuyết Einstein công bố vào năm 1905. Thuyết tương đối hẹp thừa
nhận rằng các định luật vật lí là như nhau đối với mọi nhà quan sát
không gia tốc, và rằng tốc độ ánh sáng trong chân không là bất biến, cho
dù nhà quan sát hay nguồn sáng có đang chuyển động hay không.
Thuyết tương đối hẹp thiết lập mối liên hệ giữa năng lượng và khối lượng, với phương trình nổi tiếng nhất trong lịch sử: E = mc2 (“E” là năng lượng; “m” là khối lượng, và “c”
là tốc độ ánh sáng trong chân không – khoảng 1,08 tỉ km/h). Lí thuyết
này cũng thống nhất không gian và thời gian thành một “không-thời gian”
bốn chiều.
Thuyết tương đối rộng mở rộng quan điểm thứ hai này, giải thích rằng
vật chất làm uốn cong không-thời gian, giống hệt như một quả bóng
bowling đặt trên một tấm bạt làm cong oằn tấm bạt vậy. Nhận thức sâu sắc
này không đến với Albert Einstein một cách dễ dàng gì; ông có cách làm
việc riêng của ông, sau hơn một thập niên suy nghĩ không ngừng và làm
việc cật lực.
“Ông phải đi lại từng bước chân của mình. Ông đề xuất những thứ sau
đó ông rút lại. Nhưng ông vẫn tiếp tục bước tới,” Blandford nói. “Ông
được chỉ dẫn không phải bởi những quan niệm toán học hay kĩ thuật toán
học. Ông được chỉ dẫn trước tiên và trước hết bởi trực giác vật lí: rằng
trực giác vật lí hết sức mạnh mẽ mà ông tích góp trong quá khứ không
khiến ông dừng lại ở đây.”
Thuyết tương đối rộng mô tả lực hấp dẫn không phải là một lực bẩm
sinh tác dụng lên các vật mà là hệ quả của sự cong của không-thời gian.
(Hãy tưởng tượng một hòn bi lăn xuống đường dốc tạo ra bởi quả bóng
bowling trên tấm bạt.)
Đó là một quan niệm triệt để, đầy uy lực – và nó đã trụ vững một thế
kỉ nay, Blandford viết trong một bài bình luận đăng trên tạp chí
Science, số trực tuyến ngày 5/3/2015.
Xác nhận từ nhiều phần tư thế kỉ
Thuyết tương đối rộng dự đoán rằng ánh sáng sẽ đi theo một quỹ đạo
cong xung quanh một vật thể khối lượng lớn như một đám thiên hà, nó làm
uốn cong đáng kể kết cấu của không-thời gian.
Dự đoán này đã được người ta quan sát thấy; các nhà thiên văn thường
sử dụng hiệu ứng “thấu kính hấp dẫn” đó để nghiên cứu các nguồn sáng ở
xa. Thật vậy, ở cấp độ thấp hơn một chút, hiện tượng trên còn giúp các
nhà săn lùng hành tinh tìm kiếm các thế giới ngoài hệ mặt trời của chúng
ta. (Các hành tinh ngoài hệ mặt trời thỉnh thoảng được phát hiện bằng
cách nghiên cứu hệ sao của chúng làm bẻ cong ánh sáng từ các vật thể
phông nền như thế nào.)
Các dị thường trong quỹ đạo của Kim tinh xung quanh mặt trời cũng là bằng chứng cho thuyết tương đối rộng.
“Nó giải thích sự tiến động dị thường của điểm cận nhật của Kim tinh,
hay chuyển động quay của đường nối giữa mặt trời và điểm mà hành tinh
này ở gần mặt trời nhất,” Blandford viết trong một bài báo trên tạp chí Science.
“Einstein đã sử dụng thuyết tương đối rộng giải thích chừng 10% dị biệt
trong sự tiến động đó là do lực hút hấp dẫn của những hành tinh khác,
chừng 43% giây cung trên mỗi thế kỉ. Độ chuẩn xác ngày nay là hơn 10 – 4.”
Những loại bằng chứng quan sát khác cũng giúp củng cố nền tảng cho thuyết tương đối rộng, Blandford nói.
“Chúng ta đã kiểm tra nó theo nhiều, nhiều cách khác nhau,” ông nói.
“Tôi cho là có thể nói chắc rằng không có phép đo hay quan sát đáng tin
cậy nào khiến người ta nghi ngờ [thuyết tương đối rộng] trong tầm áp
dụng của nó.”
Một vũ trụ tối
Thuyết tương đối rộng cũng hàm ý rằng phần lớn vũ trụ mênh mông được
cấu tạo bởi loại vật chất mà con người không thể phát hiện trực tiếp hay
(tại thời điểm này) thậm chí hiểu được, David Spergel thuộc Đại học
Princeton viết trong một bài bình luận trên tạp chí Science, cùng số ra đã nêu.
Nghiên cứu tỉ mỉ chuyển động của vật chất và ánh sáng trong khắp vũ
trụ cho thấy chỉ riêng vật chất “bình thường” không thể giải thích được
kết cấu cong của không-thời gian, Spergel lưu ý. Thật vậy, các quan sát
cho biết chỉ 5% vũ trụ là vật chất nguyên tử quen thuộc, trong khi 25%
là vật chất tối và khoảng 70 là năng lượng tối.
Vật chất tối không hấp thụ cũng không phát xạ ánh sáng, sự tồn tại
của nó chỉ được lần ra qua các tác dụng hấp dẫn của nó. Trong khi đó,
năng lượng tối là một lực bí ẩn đi cùng với không gian trống rỗng và
được cho là nguyên nhân gây ra sự dãn nở tăng tốc của vũ trụ.
Năm 1917, Einstein đã đưa một số hạng gọi là “hằng số vũ trụ học” vào
thuyết tương đối rộng, là một lực đẩy sẽ đối trọng với lực hấp dẫn và
thu được một vũ trụ tĩnh (đó là quan điểm thống lĩnh về bản chất vũ trụ
lúc ấy). Sau khi các quan sát nổi tiếng năm 1929 của nhà thiên văn học
Edwin Hubble cho thấy vũ trụ thật sự đang tăng tốc, Einstein đã rút lại
hằng số vũ trụ học, xem nó là “sai lầm lớn nhất” của đời ông.
Nhưng hằng số đó có giá trị tiên tri đến mức các nhà thiên văn học hiện nay đang tóm lấy nó cho bản chất của năng lượng tối.
“Tại sao vũ trụ lại đang tăng tốc? Khả năng được nghiên cứu nhiều
nhất là hằng số vũ trụ học (hay tương đương, năng lượng chân không của
không gian trống rỗng) đang chi phối gia tốc vũ trụ,” Spergel viết trong
bài báo Science. “Một khả năng khác là có một trường vô hướng
đang tiến hóa lấp đầy không gian (giống như trường Higgs hay trường lạm
phát chi phối sự dãn nở nhanh lúc đầu của vũ trụ). Cả hai khả năng này
mắc kẹt trong ‘năng lượng tối’.
“Bởi vì toàn bộ bằng chứng cho năng lượng tối sử dụng các phương
trình của thuyết tương đối rộng để lí giải các quan sát của chúng ta về
sự dãn nở và tiến hóa của vũ trụ, cho nên một kết luận khác là cần có
một lí thuyết mới của lực hấp dẫn để giải thích các quan sát đó,” ông bổ
sung thêm. “Khả năng là gồm các lí thuyết hấp dẫn cải tiến với các
chiều bổ sung.”
Tương lai phía trước
Thuyết tương đối rộng sẽ tiếp tục định hình các nỗ lực của các nhà
vật lí học, nhà vũ trụ học và nhà thiên văn học cho đến tương lai xa,
Blandford nói.
Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục sử dụng lí thuyết này để
hiểu rõ hơn các lỗ đen, các sao neutron cùng các thiên thể và hiện tượng
khác. Các nhà khoa học cũng sẽ tiếp tục khảo sát bản chất của năng
lượng tối và vật chất tối, trong một nỗ lực nhằm tìm hiểu vũ trụ ở những
thang bậc vĩ mô nhất.
Cuối cùng, và có lẽ là cái hào hứng nhất, các nhà nghiên cứu sẽ tiếp
tục cố gắng thống nhất thuyết tương đối rộng với cơ học lượng tử, để se
duyên thế giới của cái rất lớn với thế giới của cái rất nhỏ. “Lí thuyết
của tất cả” mà người ta trông mong này đã lãng tránh các nhà vật lí từ
trước đến nay, nhưng Blandford cho rằng người ta có thể đạt tới nó.
“Có nhiều quan điểm hấp dẫn ở ngoài kia,” ông nói. “Tôi là người lạc
quan và tôi hi vọng các đồng nghiệp của tôi có thể giải quyết được vấn
đề này.”
Nguồn: Mike Wall - Space.com
Điểm danh 7 vũ khí tối tân của tương lai
Viết bởi KaDick
Thứ tư, 23 Tháng 6 2010 15:24
1. Laser diệt tên lửa
Hãng
Boeing đã đưa ra vũ khí laser diệt tên lửa có tên Airborne Laser Testbed
(ALTB). ALTB, sản phẩm hợp tác giữa Boeing cùng Northrop Grumman và
Lockheed Martin. Được coi là thiết bị laser di động mạnh nhất trên thế
giới hiện nay, nó có thể phá hủy các tên lửa đạn đạo đang bay với vận
tốc khoảng 6.500 km/giờ. ALTB được mô tả là chùm laser có kích cỡ như
quả bóng rổ, có thể đạt vận tốc 1070 triệu km/giờ, bước đầu được trang
bị trên máy bay Boeing 747 cải tiến của Không quân Mỹ. Ngoài mẫu thiết
kế vũ khí laser của Boeing, Tập đoàn Raytheon cũng đang tiến hành
nghiên cứu nhằm “đa dạng hóa” loại vũ khí đặc biệt tối tân này.
2. Đại bác Ngày tận thế
Đây là
vũ khí sử dụng năng lượng điện tử thay vì bột thuốc súng để phá hủy mục
tiêu bằng động năng thay vì bằng chất nổ. Nó hoạt động bằng cách gửi
đi những dòng điện tạo ra lực từ trường đủ mạnh để bắn đạn với tốc độ
cao hơn so với những loại sử dụng thuốc súng. Tầm bắn của nó cũng đạt
từ 320 km đến 400 km. Khả năng này cho phép những con tàu bắn sâu vào
lãnh thổ của quân địch trong khi vẫn có thể đậu ở nơi an toàn. Vì không
cần thuốc súng nên những khẩu đại bác này an toàn hơn, không tốn diện
tích vận chuyển. Hải quân Mỹ hiện đang thử nghiệm và hy vọng sẽ sử dụng
nó vào năm 2018.
3. Vũ khí tàng hình
Đó là những vũ khí dựa vào công nghệ tàng hình,
được thiết kế và sử dụng các nhiên liệu khiến cho máy bay, tàu chiến,
và xe cộ khó bị radar, những thiết bị cảm ứng nhiệt… phát hiện. Quân
đội Anh cho là đã có được công nghệ này. Trong những đợt thử nghiệm bí
mật năm 2007, họ đã bọc một chiếc xe tăng bằng silicon, biến nó thành
một thiết bị chỉ có trong phim ảnh. Những chiếc camera trên xe tăng ghi
lại môi trường xung quanh ở thời gian thực và gửi đi những hình ảnh
trên bề mặt xe tăng.
4. Robot mang vác quân dụng
Núi non
hiểm trở gây khó khăn đối với binh lính, thậm chí cả khi họ không phải
chiến đấu. Trung bình một người lính ở Iraq và Afghanistan phải vác
tới 50-60kg. Để giải quyết vấn đề này, Mỹ đã tạo ra hệ thống hỗ trợ có
chân (LS3) nhằm giúp mang những thiết bị chiến đấu ở những nơi địa hình
mà xe cộ không thể di chuyển được. Nó có thể mang gần 20kg, đi được 32
km và mỗi lần có thể đi trong 24 giờ.
5. Thiết bị giúp nhìn xuyên tường
Năm nay, hải quân Mỹ sẽ cố gắng giúp đội quân ở Afghanistan có được những thiết bị cảm ứng cầm tay có thể nhìn thấu tường,
phát hiện chất nổ chôn bên trong và phát hiện quân địch bò dưới đường
hầm hay trốn sau những cái cây. Thiết bị quét Eagle5, phiên bản M và P,
sử dụng ít năng lượng, tần số radio băng thông rộng có thể cho ra
những hình ảnh phía sau gỗ, đá, gạch, xi măng hay bụi đất. Phiên bản M
trông giống như chiếc điện thoại di động cỡ lớn, nặng 1,5kg, được thiết
kế để phát hiện chuyển động và có thể tìm ra người cách xa 6 mét phía
sau tường xi măng dày 8 inch. Phiên bản P lớn hơn, được thiết kế để
phát hiện người dưới những đường hầm và những chất nổ bị chôn ở độ sâu
hơn 3 mét.
6. Robot chiến đấu
Để
tránh thương vong cho binh lính, quân đội Mỹ đang đặt hàng để tạo ra Hệ
thống robot trang bị vũ khí tối thân (MAARS). Nó có thể mở cửa, đặt
chất nổ hoặc loại bỏ các vật thể. Ngoài ra, MAARS còn được trang bị
súng ngắn M24b và khả năng phát hiện nơi bắn súng đến để có thể bắn
trả. Thiết bị này có tầm nhìn 360 độ, giao tiếp 2 chiều, được trang bị
tia laser và hoạt động được cả vào ban đêm.
7. Thiết bị bắn mà… không chết
Ngay cả
khi trong chiến tranh, có những tình huống không nhất thiết phải dùng
vũ khí chết người. Và thiết bị điện XREP đã có mặt, nó có thể làm tê
liệt một người mà không gây đau đớn ở khoảng cách 26 mét. Khi chạm tới
mục tiêu, XREP làm tê liệt mục tiêu trong vòng 20 giây, đủ để người ta
xác minh nạn nhân là bạn hay thù.
Hà Châu (Theo Technewsdaily) - Theo Báo Giáo dục và Thời đại
Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013
Lí thuyết mới về sự hình thành tia sét
Tia vũ trụ tương tác với những giọt nước bên trong những đám mây
giông có thể giữ một vai trò quan trọng trong sự kích hoạt tia sét. Đó
là khẳng định của các nhà nghiên cứu ở Nga, họ đã nghiên cứu những tín
hiệu vô tuyến phát ra trong hàng nghìn cú sét đánh. Nghiên cứu trên có
thể mang đến những hiểu biết sâu sắc mới về nguyên nhân và diễn biến của
sự hình thành tia sét lúc ban đầu.
Mặc dù đa số mọi người đều đã từng chứng kiến tia sét vào lúc nào đó
trong đời mình, nhưng các nhà khoa học vẫn chưa hiểu hết nguyên nhân gây
ra sự phóng điện lúc ban đầu. Sét đã được nghiên cứu trong hàng trăm
năm qua, nhưng trong khi nhiều khả năng quan sát luôn có sẵn – có khoảng
40 đến 50 tia sét mỗi giây trên toàn cầu – việc dự báo sự xuất hiện của
một tia sét là chuyện không đơn giản.
Có ba loại sét cơ bản: sét xảy ra bên trong một đám mây; sét xảy ra
giữa hai đám mây; và sét xảy ra giữa một đám mây và mặt đất. Trong một
cú sét từ-mây-xuống-đất tiêu biểu, các nhà khoa học biết rằng một kênh
plasma dẫn điện hình thành giữa đám mây và mặt đất, cho phép sự phóng
điện xảy ra. Tuy nhiên, những yếu tố gây ra sự tích điện ban đầu của đám
mây và sự phóng điện sau đó của nó thì chưa được hiểu rõ lắm.
Cú hích tia vũ trụ
Aleksandr Gurevich thuộc Viện Vật lí Lebedev ở Moscow và Anatoly
Karashtin thuộc Viện Nghiên cứu Vật lí Vô tuyến ở Nizhny Novgorod vừa đề
xuất một mô hình mới bao gộp hai yếu tố thiết yếu có thể giúp giải
thích quá trình trên: hành trạng của những hạt nước hoặc băng bên trong
các đám mây, được đặt tên là “sao băng nước” (hydrometeor); và những cơn
mưa electron gây ion hóa có thể do tia vũ trụ gây ra.
Lí thuyết cho rằng tia vũ trụ có thể gây ra những cơn mưa hạt ion hóa
làm kích hoạt tia sét đã được nêu ra lần đầu tiên bởi Gurevich hồi hơn
20 năm về trước. Gọi là “sự đánh thủng phi mã”, Gurevich cho rằng các
hạt gây ion hóa có thể tạo ra các electron tự do bên trong những đám mây
giông sau đó chúng được gia tốc lên những năng lượng cực cao bởi điện
trường bên trong những đám mây. Những electron này va chạm với những
nguyên tử khác trong không khí gây ra một “đợt thác” những hạt năng
lượng cao bên trong đám mây – và đợt thác này gieo mầm cho sự xuất hiện
của sét. Trong khi lí thuyết trên đã được bàn luận rộng rãi, thì
Gurevich đã không thể tìm thấy bằng chứng rằng tia vũ trụ thật sự kích
hoạt sự tuôn thác như thế.
Nhằm thu thập thêm bằng chứng, Gurevich và Karashtin vừa thực hiện
một phân tích mới sử dụng một giao thoa kế vô tuyến của những xung vô
tuyến phát ra lúc xuất hiện 3800 tia sét trên khắp nước Nga và
Kazakhstan. Một chuỗi dài những xung ngắn nhưng mạnh này được phát ra
ngay trước khi tia sét xuất hiện và, theo các nhà nghiên cứu, dữ liệu
xung đó khớp với mô hình đánh thủng điện của Gurevich.
Những xung thông tin
Các nhà nghiên cứu còn trình bày rằng biên độ của một xung tỉ lệ với
số lượng electron thứ cấp, và vì thế tỉ lê với năng lượng của tia vũ trụ
ban đầu gây ra cơn mưa hạt. Nhưng khi họ tính năng lượng tia vũ trụ,
Gurevich và Karashtin tìm được nó vào khoảng 1017 eV – một con số bất ngờ vì tia vũ trụ thuộc năng lượng này quá hiếm để giải thích cái đã đo được.
Để giải thích tại sao quan sát thấy năng lượng cao như thế, các nhà
nghiên cứu cho rằng các sao băng nước mà họ sử dụng đã trở nên phân cực
điện khi điện trường mạnh bên trong đám mây hình thành và một sự “phóng
điện micro” nữa xảy ra tại sao băng nước khi điện trường đạt tới ngưỡng
của nó, từ đó làm khuếch đại sự đánh thủng do tia vũ trụ kích hoạt. Khi
xét đến yếu tố này, thì chỉ cần những hạt tia vũ trụ với năng lượng
khoảng 1012–1013 eV dễ gặp hơn nhiều là đủ để kích thích sự phóng điện.
Nhà vật lí và chuyên gia nghiên cứu tia sét Joseph Dwyer thuộc trường
Đại học Công nghệ Florida, người không có liên quan gì với nghiên cứu
trên, phát biểu rằng mô hình mới trên là “một ý tưởng hay, nhưng vẫn cần
có thêm nhiều việc để làm nữa, ví dụ như các thí nghiệm đo đồng thời
các xung vô tuyến và các cơn mưa không khí,” đó là cái mà Dwyer và các
đồng nghiệp của ông hiện đang nghiên cứu.
Gurevich và Karashtin phát biểu rằng các quan sát của họ cho thấy sự
phát xạ vô tuyến gây ra bởi những sự phóng điện nhất định trong các đám
mây giông, chúng khác với sự phóng điện thông thường mà người ta trông
đợi và “sự đánh thủng phi mã” cũng giữ một vai trò quan trọng. Sẽ cần có
thêm những quan sát khác nữa mới giải mã được bí ẩn tối hậu của tia
sét.
Nghiên cứu công bố trên tạp chí Physical Review Letters.
Nguồn: physicsworld.com
Nhãn:
bai tap,
dao dong,
de thi vat li 2011,
hoc tap,
lý thuyết vật lí,
phương pháp vật lí,
tu dien vat li,
vat li 10,
vatli12,
vật lí,
xoay chieu
Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)