Mua he 2009-2010

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

Một số thủ thuật làm bài thi trắc nghiệm môn vật lí

Chiêu thứ 1.
Khi trong 4 phương án trả lời, có 2 phương án là phủ định của nhau, thì câu trả lời đúng chắc chắn phải là một trong hai phương án này.Ví dụ: Cho đồ thị biểu diễn một quá trình biến đổi trạng thái của chất khí (hình dưới). Trong quá trình diễn biến từ trạng thái 1 đến trạng thái 2
A. áp suất chất khí giảm;
B. thể tích chất khí tăng;
C. nhiệt độ chất khí thay đổi;
D. nhiệt độ chất khí không đổi.
        Chọn đáp án SAI.
       Rõ ràng với trường hợp câu hỏi này, ta không cần quan tâm đến hai phương án A và B, vì C và D không thể cùng đúng hoặc cùng sai được. Nếu vào thi mà gặp câu hỏi như thế này thì coi như bạn may mắn, vì bạn đã được trợ giúp 50 - 50 rồi !
Chiêu thứ 2.
Khi 4 đáp số nêu ra của đại lượng cần tìm có tới 3, 4 đơn vị khác nhau thì hãy khoan tính toán đã, có thể người ta muốn kiểm tra kiến thức về thứ nguyên (đơn vị của đại lượng vật lí) đấy.Ví dụ: Một động cơ có thể kéo một chiếc tàu đi xa 100m trong khoảng thời gian 20 giây với lực phát động trung bình 5000N. Công suất của động cơ này là
A. 500 000 J;
B. 500 000 kg.m/s;
C. 34 CV;
D. 34 N.s.
       Với bài toán này, sau một loạt tính toán, bạn sẽ thu được đáp số là 34 CV. Tuy nhiên, chỉ cần nhanh trí một chút thì việc chọn đáp số 34 CV phải là hiển nhiên, không cần làm toán.
Chiêu thứ 3.
       Đừng vội vàng “tô vòng tròn” khi con số bạn tính được trùng khớp với con số của một phương án trả lời nào đấy. Mỗi đại lượng vật lí còn cần có đơn vị đo phù hợp nữa.
Ví dụ: Một hòn đá nặng 5kg đặt trên đỉnh một tòa nhà cao 20m. Lấy mốc thế năng bằng không tại mặt đất và g = 10m/s2. Thế năng của hòn đá này là
A. 100 J;
B. 100 W;
C. 1000 W;
D. 1 kJ.
       Giải bài toán này, bạn thu được con số 1000. Nhưng đáp án đúng lại là 1 cơ. Hãy cẩn thận với những bài toán dạng này, “giang hồ hiểm ác” bạn nhé.
Chiêu thứ 4.
       Phải cân nhắc các con số thu được từ bài toán có phù hợp với những kiến thức đã biết không. Chẳng hạn tìm bước sóng của ánh sáng khả kiến thì giá trị phải trong khoảng 0,400 đến 0,760 m. Hay tính giá trị lực ma sát trượt thì hãy nhớ là lực ma sát trượt luôn vào khoảng trên dưới chục phần trăm của áp lực. Trong ví dụ sau, hai con số 0,5 N và 6,48 N rõ ràng là không thể chấp nhận được.
Một ô tô có khối lượng 2 tấn đang chuyển động với vận tốc 36 km/h thì tắt máy, sau khi đi được đoạn đường 200m thì dừng hẳn. Lực ma sát trung bình tác dụng lên ô tô trong quá trình này có độ lớn
A. 500 N;
B. 0,5 N;
C. 6,48 N;
D. 6480 N.
      Bao giờ cũng vậy, trong 4 phương án trả lời, với một chút tinh ý và óc phán đoán nhanh, trên cơ sở kiến thức đã học, bạn luôn luôn có thể loại trừ ngay 2 phương án không hợp lí.
Chiêu thứ 5.
      Luôn luôn cẩn thận với những từ phủ định trong câu hỏi, cả trong phần đề dẫn lẫn trong các phương án trả lời. Không phải người ra đề thi nào cũng “nhân từ” mà in đậm, in nghiêng, viết hoa các từ phủ định cho bạn đâu. Hãy đánh dấu các từ phủ định để nhắc nhở bản thân không phạm sai lầm.
Ví dụ: Hệ số đàn hồi (hay độ cứng) của một vật đàn hồi không phụ thuộc vào
A. tiết diện ngang của vật đàn hồi;
B. chiều dài ban đầu của vật đàn hồi;
C. bản chất của vật đàn hồi;
D. khối lượng riêng của vật đàn hồi.
       Hãy nhớ là mỗi kì thi có không ít sĩ tử “trận vong” chỉ vì những chữ “không” chết người như trên đây !

Chiêu thứ 6.
      Tương tự, bạn phải cảnh giác với những câu hỏi yêu cầu nhận định phát biểu là đúng hay sai. Làm ơn đọc cho hết câu hỏi. Thực tế có bạn chẳng đọc hết câu đã vội trả lời rồi.
Ví dụ: Chọn câu phát biểu ĐÚNG.
A. Khi các phân tử ở rất gần nhau, lực tương tác giữa chúng là lực hút;
B. Không có nhiệt độ thấp hơn 0 K;
C. Trong quá trình đẳng áp, thể tích khí tỉ lệ nghịch với nhiệt độ tuyệt đối;
D. Trong hệ tọa độ (p, V), đường đẳng nhiệt là một parabol.
      Cho như câu này là nhân đạo lắm ! Sĩ tử có thể chết “bất đắc kì tử” vì những câu “thòng” phía sau như câu sau đây, mà không hiểu sao, có nhiều bạn không thèm đọc đến khi làm bài !
Khi vận tốc của một vật biến thiên thì
A. động lượng của vật biến thiên;
B. thế năng của vật biến thiên;
C. động năng của vật biến thiên;
D. cơ năng của vật biến thiên.
Chọn đáp án SAI.
Chiêu thứ 7.
       Đặc điểm của bài kiểm tra trắc nghiệm là phạm vi bao quát kiến thức rộng, có khi chỉ những “chú ý”, “lưu ý”, “nhận xét” nhỏ lại giúp ích cho bạn rất nhiều khi lựa chọn phương án trả lời. Nắm chắc kiến thức và tự tin với kiến thức mà mình có, không để bị nhiễu vì những dữ kiện cho không cần thiết.Xét ví dụ sau: Ném một vật lên cao với vận tốc ban đầu 5 m/s. Biết lực cản của không khí tỉ lệ với bình phương vận tốc của vật. Vận tốc của vật khi rơi xuống chạm đất có giá trị
A. vẫn là 5 m/s;
B. lớn hơn 5 m/s;
C. nhỏ hơn 5 m/s;
D. không thể xác định được.
      Trong bài toán này, chi tiết “tỉ lệ với bình phương vận tốc” đưa ra chỉ với một mục đích là làm cho bạn bối rối. Mấu chốt vấn đề là ở chỗ có sự xuất hiện của lực cản trong bài toán. Đơn giản thế thôi. Hãy vứt đi chi tiết “tỉ lệ với bình phương vận tốc”, là dữ kiện không cần thiết (dữ kiện gây nhiễu), bài toán hẳn là đơn giản đi rất nhiều.
      Trên đây là một số thủ thuật làm bài kiểm tra trắc nghiệm vật lí. Hi vọng là mấy “chiêu thức” đơn sơ này có thể giúp ích cho bạn phần nào khi bước vào phòng thi. Tuy nhiên, có một điều tôi muốn nhấn mạnh với bạn rằng: Cho dù hình thức kiểm tra, đánh giá có thay đổi như thế nào đi nữa thì học cho chắc và bình tĩnh, tự tin khi làm bài vẫn là hai yếu tố then chốt quyết định cho sự thành công của bạn. Chúc may mắn.

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

Thần Đồng

       Bé Tý năm nay 6 tuổi học trường tiểu học lớp 5. Học được một tuần thì bé Tý không chịu làm bài vở nữa. Cô giáo bèn hỏi nguyên nhân tại sao thì bé Teo, ngồi cạnh bé Tý, trả lời rằng do chương trình học quá thấp so với trình độ của Tý.
      Mấy hôm sau, bé Tý xin cô cho lên học bậc trung học. Cô giáo dẫn bé Tý lên văn phòng ông hiệu trưởng, trình bày đầu đuôi câu chuyện. Ông hiệu trưởng bán tín bán nghi, bàn với cô giáo là ông sẽ hỏi bé Tý một số câu hỏi về khoa học còn cô giáo sẽ hỏi Tý về kiến thức tổng quát, nếu bé Tý trả lời đúng ông sẽ cho bé nhảy lớp.
- Hiệu trưởng: 25 lần 25 là bao nhiêu?
- Bé Tý: Dạ là 625
- Hiệu trưởng: Công thức tính diện tích vòng tròn?
- Bé Tý: Dạ là bình phương bán kính nhân Pi
- Hiệu trưởng: Nước bốc thành hơi khi nào?
- Bé Tý: Dạ khi nước sôi ở 100 độ C
....
      Sau 1 tiếng "tra tấn", câu nào bé Tý cũng đáp đúng hết, ông hiệu trưởng rất hài lòng về kiến thức khoa học của bé và giao cho cô giáo hỏi về kiến thức tổng quát :
- Cô giáo: Con gì càng lớn càng nhỏ?
      Ông hiệu trưởng hết hồn nhưng bé Tý trả lời ngay: "Dạ là con cua nó có càng lớn và càng nhỏ".
- Cô giáo: Cái gì trong quần em có mà cô không có?
      Ông hiệu trưởng xanh cả mặt.
- Bé Tý: Dạ là 2 cái túi quần
- Cô giáo: Ở nơi đâu lông của đàn bà quăn nhiều nhất?
      Ông hiệu trưởng run lên.
- Bé Tý: Dạ ở Phi Châu
- Cô giáo: Cái gì cô có ở giữa 2 chân của cô?
      Ông hiệu trưởng chết điếng người.
- Bé Tý: Dạ là cái đầu gối
- Cô giáo: Cái gì trong người của cô lúc nào cũng ẩm ướt ?
      Ông hiệu trưởng hóc mồm ra.
- Bé Tý: Dạ là cái lưỡi
- Cô giáo: Cái gì của cô còn nhỏ khi cô chưa có chồng và rộng lớn ra khi cô lập gia đình?
      Ông hiệu trưởng ra dấu không cho bé Tý trả lời nhưng bé Tý đáp ngay: "Dạ, là cái giường ngủ a".
- Cô giáo : Cái gì mềm mềm nhưng khi vào tay cô một hồi thì cứng ra?
      Ông hiệu trưởng không dám nhìn cô giáo
- Bé Tý: Dạ là dầu sơn móng tay
- Cô giáo: Cái gì dài dài như trái chuối, cô cầm một lúc nó chảy nước ra?
      Ông hiệu trưởng gần xỉu.
- Bé Tý: Dạ là cây kem ạ
      Ông hiệu trưởng đổ mồ hôi hột ra dấu bảo cô giáo đừng hỏi nữa và nói với bé Tý: Thày cho con lên thẳng đại học bởi vì con là thần đồng. Nãy giờ thày không trả lời đúng 1 câu nào hết !!

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010

Con sinh thế nào

          Một cậu bé hỏi bố mình: "Bố ơi! Con được sinh ra như thế nào hả bố?" Người cha là một kĩ sư công nghệ thông tin đang lướt web bèn ứng khẩu trả lời cậu quí tử.
          Mẹ và bố cùng duyệt web trên một chiếc giường. Cha kết nối với mẹ. Cha upload dữ liệu từ một cái USB sang cho mẹ. Sau khi download hết về, mẹ sửng sốt thông báo là mẹ không cài một chương trình anti-virus nào cả, trong khi đó, bố cũng không cài đặt Firewall".
          Rồi thế nào nữa hả bố?"
          Cả cha và mẹ đều cố gắng xoá bỏ số dữ liệu trên, thậm chí là format lại ổ nhưng không kịp. Vậy là sau 9 tháng 10 ngày, con được sinh ra đời.

Hệ Mặt Trời (phần 3)

2.16 Trong dải Ngân Hà
        Hệ Mặt Trời là một phần của thiên hà có tên gọi là Ngân Hà (Sông sao) hay Milky Way (dòng sữa) (trong văn chương còn gọi là sông Ngân), đây là một thiên hà xoắn ốc với đường kính khoảng 100.000 năm ánh sáng chứa khoảng 200 tỷ ngôi sao, trong đó Mặt Trời của chúng ta là một ngôi sao thông thường điển hình.
       Hệ Mặt Trời nằm trong Bông Địa phương ở cánh tay của chòm sao Lạp Hộ thuộc Ngân Hà. Khoảng cách từ Hệ Mặt Trời tới tâm của Ngân Hà khoảng từ 25.000 đến 28.000 năm ánh sáng. Vận tốc của hệ Mặt Trời trên quỹ đạo là khoảng 220 km trên s, và nó hoàn thành một chu kỳ quay khoảng 226 triệu năm. Tại vị trí của Hệ Mặt Trời trong dải Ngân Hà thì vận tốc vũ trụ cấp bốn là khoảng 1.000 km/s (tính theo người quan sát ở Trái Đất).
       Xung quanh hệ Mặt Trời, trong vòng bán kính cách chúng ta (Trái Đất) 5 parsec (khoảng dưới 17 năm ánh sáng) hiện các nhà khoa học đang thống kê được 49 hệ sao, trong đó có 65 sao sáng và 4 sao lùn nâu
2.17 Proxima Centari
        Ngôi sao gần hệ Mặt Trời nhất trong dải Ngân Hà là sao lùn đỏ Proxima Centauri trong chòm sao Bán Nhân Mã, cách chúng ta khoảng 4.243±0.002 năm ánh sáng. Cạnh đó là sao đôi Alpha Centauri 4.365±0.007 năm ánh sáng. Sau đó là sao Barnard với khoảng cách 5.98 ± 0.003 năm ánh sáng.
       Hệ Mặt Trời có quỹ đạo rất không bình thường trong dải Ngân Hà. Nó vừa rất gần với quỹ đạo tròn vừa gần với khoảng cách chính xác mà từ đó vận tốc quỹ đạo phù hợp với vận tốc của các bước sóng nén tạo ra các nhánh xoắn ốc. Hệ Mặt Trời thuộc về nhánh trong các nhánh xoắn ốc có thể tạo thành sự sống giống như trên Trái Đất. Bức xạ từ các siêu tân tinh trong các nhánh xoắn ốc trên lý thuyết có thể tiêu diệt hay ngăn cản mọi sự sống trên bề mặt các hành tinh. Khác với các phần còn lại của các nhánh xoắn ốc, Trái Đất có thể là một sự khác thường do nó có khả năng tạo thành các hình thái khác nhau của sự sống trên bề mặt của nó.
2.17 Nguồn gốc và sự tiến hoá
        Lịch sử Hệ Mặt Trời bắt đầu từ cách đây khoảng 5 tỷ năm, với sự hình thành từ một đám mây thể khí gọi là đám bụi Mặt Trời, theo giả thuyết được đưa ra lần đầu tiên năm 1755 bởi Immanuel Kant và được trình bày một cách độc lập bởi Pierre-Simon Laplace.
        Để tính ra tuổi Hệ Mặt Trời, có thể đo lượng còn lại của các đồng vị phóng xạ không bền vững không có nguồn sinh ra liên tục sau khi Hệ Mặt Trời hình thành. Bằng cách quan sát xem các đồng vị này đã suy giảm đến mức độ nào, đồng thời biết được chu kỳ bán rã của chúng, có thể tính ra tuổi của chúng. Những hòn đá cổ nhất trên Trái Đất ước tính 3,9 tỷ năm tuổi, tuy nhiên rất khó để tìm được những hòn đá đó vì Trái Đất đã hoàn toàn thay đổi bề mặt của nó. Các thiên thạch, vốn được hình thành trong giai đoạn ban đầu của đám bụi mặt trời, được tìm thấy có tuổi già nhất là 4.6 tỷ năm, suy ra Hệ Mặt Trời đã được hình thành từ cách đây ít nhất 4.6 tỷ năm.
       Đám bụi Mặt Trời ban đầu có hình dáng gần giống hình cầu, đường kính 100 AU và có khối lượng bằng 2 đến 3 lần khối lượng Mặt Trời. Theo thời gian, một sự nhiễu loạn, có thể một sao siêu mới bên cạnh, gây sóng hấp dẫn xung kích vào không gian của đám bụi, làm nén đám bụi này, đẩy vật chất của nó sâu vào bên trong, tới lúc lực hấp dẫn vượt qua áp suất khí bên trong và nó bắt đầu sụp đổ.
       Khi đám bụi sụp đổ, nó giảm kích thước, điều này làm nó xoay tròn nhanh hơn để giữ mô men động lượng bảo toàn. Các định luật cơ học cho thấy kết quả của các lực hấp dẫn, áp suất khí, và lực ly tâm trong chuyển động quay khiến cho đám bụi bắt đầu trở nên dẹt thành hình một cái đĩa quay tròn với một chỗ phình lên ở giữa, gọi là đĩa bụi Mặt Trời. Mặt phẳng trung bình của đĩa bụi này rất gần với mặt phẳng hoàng đạo sau này.
       Khi đĩa bụi Mặt Trời trở nên đặc hơn, một hình thức đầu tiên của sao trung tâm (tức Mặt Trời sau này) được tạo thành ở giữa, gọi là tiền Mặt Trời. Hệ này được sự ma sát của các viên đá va chạm vào nhau làm nóng lên. Những nguyên tố nhẹ hơn như hydro và heli thoát khỏi phần tâm và tràn ra phía rìa ngoài của đĩa, để lại các nguyên tố nặng tập trung bên trong, hình thành bụi và đá ở trung tâm. Các nguyên tố nặng hơn kết thành khối với nhau để tạo thành các tiểu hành tinh và các tiền hành tinh. Ở vùng ngoài của tinh vân này, băng và các khí dễ bay hơi còn tồn tại, và như một kết quả, các hành tinh bên trong là đá và các hành tinh bên ngoài có đủ khối lượng để giữ lại lượng lớn các khí nhẹ, như hydro và heli.
       Sau 100 triệu năm, áp suất và sự cô đặc hydrô ở trung tâm của đĩa bụi sụp đổ trở lên đủ lớn để tiền Mặt Trời duy trì các phản ứng nhiệt hạch. Kết quả của việc này, hydro bị biến thành heli trong các phản ứng đó, và một lượng lớn nhiệt được toả ra.
       Trong thời gian đó, tiền Mặt Trời biến thành Mặt Trời và các tiền hành tinh và tiền tiểu hành tinh biến thành các hành tinh thông qua sự tập trung dần dần khối lượng. Tất cả các hành tinh được hình thành trong một thời gian ngắn, khoảng vài triệu năm. Chúng đều có quỹ đạo nằm gần mặt phẳng trung bình của đĩa bụi ban đầu; nghĩa là mặt phẳng hoàng đạo (mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất) cũng nằm gần mặt phẳng trung bình này và gần với các mặt phẳng quỹ đạo của các hành tinh khác.
2.18 Khám phá và thám hiểm:
2.18.1 Lịch sử
       Các hành tinh bên trong Sao Thổ từng được các nhà thiên văn ngày xưa biết đến, họ quan sát sự di chuyển của những vật thể đó so với những vùng có vẻ đứng im gồm các ngôi sao. Sao Kim và Sao Thuỷ vốn đã được quan sát là hai vật thể riêng biệt dù có khó khăn trong việc kết nối "Sao hôm" và "Sao mai". Họ cũng biết rằng hai vật thể không phải một điểm, Mặt Trời và Mặt Trăng, di chuyển trên cùng một cái nền đứng im. Tuy nhiên, sự hiểu biết về trạng thái của những vật thể đó hoàn toàn thiếu chính xác.
       Trạng thái và cấu trúc của Hệ Mặt Trời vẫn còn bị hiểu biết chưa chính xác vì ít nhất là hai lý do. Trái Đất đã bị coi là đứng im, và sự di chuyển của các vật thể trên trời vì thế cũng chỉ là bên ngoài. Mặt Trời đã bị coi là quay quanh Trái Đất, giống như các hành tinh hay thiên thể khác. Quan niệm này về vũ trụ, với Trái Đất ở trung tâm, được goi là hệ địa tâm. Nhiều vật thể trong hệ mặt trời và các hiện tượng không được nhận thức đầy đủ nếu không có trợ giúp của kỹ thuật.
       Trong vài trăm năm qua, các tiến bộ về nhận thức và kỹ thuật đã giúp con người hiểu thêm nhiều về hệ mặt trời. Sự nhận thức đầu tiên và có tính nền tảng là cuộc cách mạng của Nicolaus Copernicus cho rằng các hành tinh quay quanh Mặt Trời - hệ nhật tâm - với Mặt Trời ở trung tâm. Điều đã gây sốc nhất và gây ra nhiều tranh cãi nhất không phải là việc Mặt Trời ở trung tâm mà là Trái Đất thuộc ngoại biên, và có quỹ đạo. Các hành tinh vốn chỉ bị coi đơn giản là các điểm trên bầu trời, nhưng nếu chính Trái Đất là một hành tinh, có lẽ những hành tinh khác, giống như Trái Đất, chỉ là những hình cầu to lớn và cứng chắc.
       Về mặt triết học, có một số sự chống đối thuyết nhật tâm. Tình trạng tự nhiên của các vật khoáng, nặng giống như Trái Đất được tin rằng sẽ nằm im. Các hành tinh được cho rằng được cấu tạo từ vật liệu riêng biệt, phù du (sớm nở tối tàn) và nhẹ. Mọi người từng tin rằng sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời làm cho không khí biến mất khỏi bề mặt. Nếu Trái Đất đang chuyển động, các nhà thiên văn học đã có thể quan sát thị sai của các ngôi sao, như việc các ngôi sao xuất hiện và thay đổi vị trí so với các vật thể ở xa hơn vì lý do Trái Đất thay đổi vị trí.
       Sự phát minh ra kính viễn vọng cho phép một sự tiến bộ căn bản về kỹ thuật trong việc khám phá Hệ Mặt Trời, với kính viễn vọng đã được cải tiến của Galileo Galilei đã cho phép nhiều lợi ích trong việc khám phá các vệ tinh của các hành tinh khác, đặc biệt là bốn vệ tinh lớn của Sao Mộc. Điều này cho thấy tất cả các vật thể trong vụ trụ không quay quanh Trái Đất. Tuy nhiên, có thể phát minh lớn nhất của Galileo là việc hành tinh Sao Kim có các pha giống như Mặt Trăng, chứng minh rằng nó phải quay quanh Mặt Trời.
Sau đó, vào năm 1678, Isaac Newton dùng định luật vạn vật hấp dẫn của mình giải thích lực vừa giữ Trái Đất quay quanh Mặt Trời vừa giữ không khí không bị cuốn đi mất.
       Cuối cùng, năm 1838, nhà thiên văn Friedrich Wilhelm Bessel đã thành công trong việc đo đạc thị sai của ngôi sao 61Cygni, chứng minh một cách thuyết phục rằng Trái Đất đang chuyển động.
2.18.2 Ngày nay
       Với sự khởi đầu thời đại vũ trụ, một thời đại vĩ đại trong thám hiểm đã được thực hiện bởi các chuyến thăm dò vũ trụ không người lái được tổ chức và thực hiện bởi nhiều cơ quan vũ trụ. Tàu thăm dò vũ trụ đầu tiên hạ cánh xuống một vật thể trong Hệ Mặt Trời là tàu thám hiểm Luna 2 của Liên Xô, nó hạ cánh xuống Mặt Trăng năm 1959. Từ đó, ngày càng có nhiều hành tinh khác ở xa hơn được khám phá, với việc tàu vũ trụ đáp xuống Sao Kim năm 1965, Sao Hoả năm 1976, tiểu hành tinh 433 Eros năm 2001, và vệ tinh Titan của Sao Thổ năm 2005. Các tàu vũ trụ cũng đã tiến gần tới các hành tinh khác như Mariner 10 đi qua Sao Thuỷ năm 1973.
       Tàu vũ trụ đầu tiên khám phá các hành tinh vòng ngoài là Pioneer, bay qua Sao Mộc năm 1973. Pioneer 11 là tàu đầu tiên đến Sao Thổ năm 1979. Các tàu vũ trụ Voyager đã làm một cuộc hành trình vĩ đại đến các hành tinh vòng ngoài sau khi chúng được phòng lên năm 1977, với hai tàu bay qua Sao Mộc năm 1979 và Sao Thổ năm 1980-1981. Voyager 2 sau đó tiến sát đến Sao Thiên Vương năm 1986 và Sao Hải Vương năm 1989. Các tàu Voyager hiện đang ở bên ngoài quỹ đạo của Sao Diêm Vương, và đến tháng 6 năm 2006, tàu Voyager 1 đã vượt qua ranh giới của Hệ Mặt Trời.
       Sao Diêm Vương vẫn chưa được thăm viếng bởi một tàu vũ trụ nào của con người dù việc NASA phóng tàu New Horizons vào tháng 1 năm 2006 có thể làm thay đổi điều này. Tàu dự tính sẽ bay qua Sao Diêm Vương vào tháng 7 năm 2015 và sau đó sẽ nghiên cứu thêm càng nhiều càng tốt về các vật thể trong vành đai Kuiper.
       Thông qua những vụ khám phá không người lái đó, con người đã có thể có những ảnh chụp gần hơn về đa số các hành tinh và trong trường hợp có thể hạ cánh, tiến hành các xét nghiệm về đất đá và khí quyển của chúng. Các cuộc thám hiểm có người lái, dù sao, cũng chỉ đưa con người tới được Mặt Trăng, trong chương trình Apollo. Lần cuối con người đáp tàu lên Mặt Trăng là vào năm 1972, nhưng những sự khám phá gần đây về băng trong những miệng núi lửa sâu ở các vùng cực của Mặt Trăng đã gợi nên ý tưởng suy đoán rằng tàu vũ trụ có người lái có thể quay lại Mặt Trăng trong thập kỷ tới hoặc sau đó. Chương trình phòng tàu vũ trụ có người lái đến Sao Hoả đã được dự đoán từ nhiều thế hệ những người yêu thích thiên văn. Châu Âu (ESA) hiện đang đặt kế hoạch phóng tàu có người lái khám phá Mặt Trăng và Sao Hoả như một phần của Chương trình thám hiểm Aurora được xác nhận vào năm 2001. Hoa Kỳ cũng có một chương trình tương tự gọi là Tầm nhìn Thám hiểm Vũ trụ năm 2004.
2.19 Giả thuyết sao đôi
Có giả thuyết cho rằng Mặt Trời có thể là một phần trong một hệ sao đôi, với một ông bạn đồng hành được gọi là Nemesis. Nemesis được cho là có thể giải thích một số trạng thái đều đặn về thời gian của sự tuyệt chủng của cuộc sống trên Trái Đất. Các lý thuyết cho rằng Nemesis tạo ra các xáo trộn định kỳ trong đám mây Oort gồm các sao chổi bay quanh Hệ Mặt Trời, gây ra các "cơn mưa sao chổi". Một số chúng va chạm với Trái Đất, gây ra sự huỷ diệt sự sống. Lý thuyết này không còn được nhiều nhà khoa học cho là nghiêm túc, phần lớn bởi vì các quan sát hồng ngoại không thể tìm thấy bất kỳ một vật thể nào như vậy, vốn phải dễ nhận thấy với các bước sóng đó.

Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/; Thể loại: Bài đang được viết | Hệ Mặt Trời (hết) xem lại phần 2

Hệ Mặt Trời (phần 2)

2.10 Sao Diêm Vương và Charon
        Sao Diêm Vương là một hành tinh lùn nằm trong vành đai Kuiper. Hiện vẫn còn đang tranh cãi liệu Charon có còn là một vệ tinh của Sao Diêm Vương hay được xếp loại thành một hành tinh lùn vì đây là một hệ kép.
2.11 Đĩa phân tán
       Trải rộng hơn ra phía bên ngoài của Vành đai Kuiper là đĩa phân tán. Các vật thể của đĩa phân tán được cho rằng có cùng nguồn gốc với Vành đai Kuiper nhưng bị bắn vào các quỹ đạo thất thường hơn ở ngoài rìa.
Một vật thể đặc biệt của đĩa phân tán là 2003 UB313, được tìm ra vào năm 2003 nhưng được khẳng định hai năm sau đó bởi Mike Brown (Caltech), David Rabinowitz (Đại học Yale) và Chad Trujillo (Gemini Observatory), đã khởi động lại cuộc tranh cãi cũ về cái gì tạo nên một hành tinh bởi vì nó lớn hơn Sao Diêm Vương tới 30%, với đường kính ước tính khoảng 1864 dặm. Hiện nay nó không có tên, nhưng được trao cho cái tên tạm là 2003 UB313; nó cũng được gọi là "Xena" bởi những người tìm ra nó, lấy tên một nhân vật truyền hình. Nó có nhiều điểm tương đồng với Sao Diêm Vương: quỹ đạo của nó rất lệch tâm, với điểm cận nhật là 38,2 AU (gần bằng khoảng cách của Sao Diêm Vương tới Mặt Trời) và điểm viễn nhật 97,6 AU, và nó rất nghiêng so với mặt phẳng hoàng đạo, tới 44 độ, hơn nhiều so với bất kỳ vật thể nào được biết đến trong Hệ Mặt Trời, trừ một vật thể mới được khám phá gần đây là 2004 XR190. Giống như Sao Diêm Vương, nó được tin rằng được cấu thành phần lớn từ đá và băng, và có một mặt trăng. Tuy nhiên, việc nó và các vật thể lớn nhất trong vành đai Kuiper phải được coi là hành tinh hay Sao Diêm Vương phải bị xếp hạng lại là một thiên thể ngoài Hải Vương Tinh vẫn còn là vấn đề chưa được giải quyết.
2.12 Eris
        Eris là hành tinh lùn lớn nhất trong Thái Dương hệ và là thiên thể thứ chín quay quanh Mặt Trời (tính theo khoảng cách).
2.13 Khả năng về một vùng mới
        Sedna, vật thể kiểu sao Diêm Vương mới được tìm thấy với một quỹ đạo khổng lồ, hình elip với thời gian quay quanh Mặt Trời là 10.500 năm cùng điểm cận nhật và viễn nhật vào cỡ 76 AU và 928 AU. Ở điểm cận nhật nó là một thành viên của vành đai Kuiper và có thể là thành viên đầu tiên của một vùng mới. 2000 CR105 cũng được cho là một thành viên của vùng này.
2.14 Các sao chổi
        Các sao chổi phần lớn được tạo thành từ băng dễ bay hơi và có quỹ đạo rất lệch tâm, thường điểm cận nhật ở bên trong quỹ đạo của các hành tinh vòng trong và điểm viễn nhật xa bên ngoài Sao Diêm Vương. Các sao chổi chu kỳ ngắn có điểm viễn nhật ở gần hơn, tuy nhiên, một sao chổi già thường bị bay hơi hết những gì có thể bay được khi đi qua gần Mặt Trời thường có nhiều đặc tính của tiểu hành tinh. Các sao chổi chu kỳ dài có chu kỳ kéo dài hàng nghìn năm. Một số sao chổi có quỹ đạo hình hyperbol có thể có nguồn gốc bên ngoài Hệ Mặt Trời.
2.15 Các vùng ở xa hơn
        Điểm kết thúc của Hệ Mặt Trời và là điểm khởi đầu của không gian giữa các sao vẫn chưa được định nghĩa chính xác. Biên giới này là nới bằng hai áp suất đẩy ra của gió Mặt Trời cân bằng với lực hấp dẫn từ bên trong Hệ Mặt Trời.
        Nhật quyển trải rộng ra phía ngoài tạo thành một hình cầu vĩ đại có bán kính khoảng 95 AU, hay gấp ba lần bán kính quỹ đạo của Sao Diêm Vương. Rìa ngoài của hình cầu là điểm mà ở đó gió Mặt Trời va chạm với các loại gió đối nghịch khác của không gian giữa các sao. Ở đó gió đi chậm lại, đặc lại và trở nên rối loạn hơn, tạo thành một kết cấu hình bầu dục vĩ đại được gọi là nhật bao (heliosheath) có hình dáng và tính chất rất giống đuôi một sao chổi; trải dài ra bên ngoài thêm 40 AU nữa về phía gió sao, nhưng có đuôi về hướng ngược lại dài hơn rất nhiều lần. Biên giới bên ngoài của vỏ, là nhật mãn (heliopause), là điểm mà tại đó gió Mặt Trời cuối cùng cũng kết thúc, và tiến vào không gian liên hành tinh. Phía bên kia của heliopause, ở khoảng 230 AU, có hình cung, là một "đường rẽ nước" do Mặt Trời để lại khi nó di chuyển trong Ngân Hà.
      Nhưng cả điểm này cũng không được cho là bên ngoài Hệ Mặt Trời, vì lực hấp dẫn của Mặt Trời vẫn thống trị thậm chí cho tới Mây Oort. Đám mây Oort là một khối to lớn những vật thể đóng băng, hiện vẫn chỉ có tính giả thuyết, được cho là nguồn gốc của những sao chổi thời gian dài và bao quanh Hệ Mặt Trời giống như là một cái vỏ ở khoảng cách 50.000 đến 100.000 AU phía ngoài Mặt Trời, hay thậm chí là nửa đường đến hệ sao khác. Vì thế, đa phần của Hệ Mặt Trời vẫn còn chưa được nghiên cứu.

Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/; Thể loại: Bài đang được viết | Hệ Mặt Trời (còn nữa) xem tiếp phần 3
(xem phần một)
Bạn có thể downloals tại đây

Hệ Mặt Trời (phần 1)

      Hệ Mặt Trời (cũng được gọi là Thái Dương Hệ) là một hệ hành tinh có Mặt Trời ở trung tâm và các thiên thể nằm trong phạm vi lực hấp dẫn của Mặt Trời, gồm 8 hành tinh chính quay xung quanh, 7 trong số các hành tinh này có vệ tinh riêng của chúng, cùng một lượng lớn các vật thể khác gồm các hành tinh lùn (như Diêm Vương Tinh), tiểu hành tinh, sao chổi, bụi và plasma.
2.1 Cấu trúc
      Từ trong ra ngoài, Hệ Mặt Trời gồm
            • Mặt Trời
            • Các hành tinh là Thủy Tinh, Kim Tinh, Trái Đất, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh.
            • Ba hành tinh lùn là Ceres, Diêm Vương Tinh và Eris (được chính thức xếp loại hành tinh lùn kể từ tháng 8 năm 2006).
            • Ngoài cùng là Vòng đai Kuiper và Đám Oort.
      Các hành tinh còn có các vật thể bay quanh chúng như các vệ tinh tự nhiên, các vòng đai của vài hành tinh (như vành đai Sao Thiên Vương, vành đai Sao Thổ, ...), các vệ tinh nhân tạo. Các tiểu hành tinh cũng có các vệ tinh của chúng.
      Xen kẽ giữa các hành tinh có các thiên thạch và bụi cùng các sao chổi. Ngoài ra còn có nhật quyển (heliosphere), cấu trúc lớn nhất trong Hệ Mặt Trời, được tạo thành từ ảnh hưởng của từ trường quay của Mặt Trời trên plasma, gọi là gió Mặt Trời, choán đầy không gian trong hệ Mặt Trời. Nó hình dạng hình cầu với giới hạn ngoài cũng chính là giới hạn của Hệ Mặt Trời.
2.2 Cấu trúc hệ Mặt Trời
      Khoảng cách trong Hệ Mặt Trời thường được đo bằng các đơn vị thiên văn. Một đơn vị thiên văn, viết tắt là AU, là khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời, hay 149.598.000 kilômét.
      Đa số các vật thể trên quỹ đạo quanh Mặt Trời đều nằm trong mặt phẳng quỹ đạo gần nhau, và gần mặt phẳng hoàng đạo, và cùng quay một hướng. Kích thước của quỹ đạo các hành tinh và cả vành đai tiểu hành tinh tuân gần đúng theo quy luật Titius-Bode, một quy luật gần đúng và có thể chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên.
      Các vật thể trong Hệ Mặt Trời được chia thành ba vùng. Các hành tinh Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, vành đai các tiểu hành tinh chính và Sao Hỏa nhóm thành các hành tinh vòng trong, gọi là vùng I. Các hành tinh còn lại cùng các vệ tinh của chúng tạo các hành tinh vòng ngoài, vùng II. Vùng III gồm vùng của các vật thể bên kia của Hải Vương Tinh (Trans-Neptunian) như vành đai Kuiper, Đám Oort và vùng rộng lớn ở giữa.
2.3 Phân bố khối lượng
      Mặt Trời, một sao thuộc dãy chính G2, chiếm 99,86% khối lượng hiện được biết đến của cả hệ. Hai vật thể có đường kính lớn nhất của hệ, Sao Mộc và Sao Thổ, chiếm 91% phần còn lại (khoảng 0.1274% khối lượng cả hệ). Đám Oort có thể chiếm một phần đáng kể, nhưng hiện nay sự hiện diện của nó còn chưa đượcxácđịnh.
2.4 Gió Mặt Trời
      Mặt Trời phát ra một nguồn tia liên tục gồm các hạt có khối lượng, ở dạng plasma được biết đến như gió Mặt Trời. Nó tạo thành một vùng có áp suất thấp thâm nhập vào không gian giữa các hành tinh ở mọi hướng, vươn tới khoảng cách ít nhất là mười tỷ dặm tính từ Mặt Trời. Các lượng nhỏ gồm bụi cũng có mặt trong không gian giữa các hành tinh và gây ra hiện tượng ánh sáng hoàng đạo. Một số bụi có lẽ đến từ bên ngoài Hệ Mặt Trời. Sự ảnh hưởng của từ trường quay của Mặt Trời đối với không gian giữa các hành tinh tạo nên kết cấu lớn nhất trong Hệ Mặt Trời, gọi là nhật quyển.
      Gió Mặt Trời tạo ra nhiều ảnh hưởng đến khí quyển Trái Đất, tạo ra bão từ, cực quang
2.5 Các hành tinh vòng trong
      Các hành tinh vòng trong: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa
Bốn hành tinh kiểu Trái Đất (terrestrial planet) ở vòng trong có đặc trưng ở sự rắn đặc của chúng, được tạo thành từ đá. Chúng được tạo thành trong những vùng nóng hơn gần Mặt Trời, nơi các vật liệu dễ bay hơi hơn đã bay mất chỉ còn lại những thứ có nhiệt độ nóng chảy cao, như silicate, tạo thành vỏ rắn của các hành tinh và lớp phủ bán lỏng bên ngoài, và như sắt, tạo thành lõi của các hành tinh này. Tất cả đều có các hố tạo ra bởi va chạm và nhiều đặc trưng kiến tạo bề mặt, như các thung lũng nứt rạn và các núi lửa. Chúng tự quay quanh trục chậm chạp và có rất ít hoặc không có vệ tinh nào cả. Tổng cộng cả nhóm chỉ có 3 vệ tinh.
     Với tính chất lí hóa gần như Trái Đất, nhóm hành tinh bên trong đều có bề mặt là đá (nên lưu giữ được nhiều dấu vết những vụ va chạm với các thiên thạch), nhưng chỉ trên Trái Đất mới có mặt các hợp chất hữu cơ.
     Sao Thuỷ, cách Mặt Trời 0,39 AU, là hành tinh nằm gần Mặt Trời nhất và cũng là hành tinh nhỏ nhất, không điển hình nhất trong nhóm. Nó không có khí quyển và hiện nay vẫn chưa quan sát được các hoạt động địa chất. Cái lõi sắt to của nó gợi ý rằng nó từng có vỏ to lớn bên ngoài và cái vỏ đó đã bị lấy đi trong giai đoạn hình thành đầu tiên bởi trọng lực của Mặt Trời.
     Sao Kim, cách Mặt Trời 0,72 AU, là hành tinh kiểu Trái Đất thực sự. Giống như Trái Đất, Sao Kim có lớp vỏ silicate dày bao bọc bên ngoài lõi sắt, cũng như một khí quyền đáng kể và bằng chứng về hoạt động địa chất bên trong từng xảy ra trước kia, như các núi lửa. Nó khô hơn Trái Đất, và khí quyển của nó đậm đặc hơn Trái Đất 90 lần, tuy nhiên, chứa chủ yếu thán khí và axít sunfuric.
     Trái Đất, cùng vệ tinh tự nhiên Mặt Trăng, cách Mặt Trời 1 AU, là hành tinh lớn nhất trong nhóm bên trong. Trái Đất cũng là nơi duy nhất cho thấy những minh chứng rõ ràng về hoạt động địa chất đang diễn ra. Nó là hành tinh duy nhất có thủy quyển, kích thích sự hình thành các kiến tạo địa chất nhiều tầng. Khí quyền của nó khác biệt căn bản so với các hành tinh trong nhóm, nó đã biến đổi với sự hiện diện của sự sống và chứa 21% ôxi. Vệ tinh của Trái Đất, Mặt Trăng, thỉnh thoảng được coi là một hành tinh kiểu Trái Đất trong cùng quỹ đạo, bởi vì quỹ đạo của nó quay quanh Mặt Trời không bao giờ khép lại tròn một vòng khi quan sát từ bên trên. Mặt Trăng có nhiều đặc tính chung của những hành tinh kiểu Trái Đất khác, mặc dù nó không có lõi sắt bên trong.
     Sao Hoả, cách Mặt Trời 1,5 AU, nhỏ hơn Trái Đất và Sao Kim, có khí quyển loãng gồm thán khí. Bề mặt của nó, lỗ chỗ các núi lửa lớn và các rãnh thung lũng như các thung lũng Marineris, cho thấy rằng nó từng có các hoạt động địa chất và chứng cứ hiện nay cho thấy rằng có thể nó còn tiếp tục đển rất gần đây (Trái Đất). Sao Hoả có hai mặt trăng nhỏ được cho là các tiểu hành tinh bị nó tóm được.
2.6 Vành đai tiểu hành tinh
     Tiểu hành tinh cũng là thiên thể chuyển động quanh Mặt Trời nhưng do có kích thước khá bé (vài chục đến vài trăm km) nên lực hấp dẫn tạo ra không đủ để làm chúng có dạng hình cầu. Trong hệ Mặt Trời có khoảng 100.000 tiểu hành tinh, trong đó khoảng 10% đã được đặt tên. Đại đa số tập trung vào khoảng giữa sao Hỏa và sao Mộc.
2.7 Các hành tinh vòng ngoài
      Các hành tinh vòng ngoài còn được gọi là những "ông khổng lồ khí" (gas giant), do chúng rất to lớn và chiếm đến 99% khối lượng bay quanh Mặt Trời. Kích thước khổng lồ của chúng và khoảng cách của chúng đến Mặt Trời có nghĩa là chúng có thể giữ lại đa phần hydro và heli bị đẩy ra từ vòng trong do quá nhẹ.
      Sao Mộc, cách Mặt Trời 5,2 AU, là hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời. Nó có khối lượng gấp 318 lần Trái Đất, lớn gấp 2,5 lần khối lượng của tất cả các hành tinh khác gộp lại. Thành phần của nó gồm phần lớn gồm hydro và heli, không khác nhiều so với Mặt Trời. Ba trong số 63 vệ tinh của nó, Ganymede, Io và Europa, có các yếu tố chung với các hành tinh, như có núi lửa và nguồn nhiệt bên trong. Sao Mộc có một vành đai đá mờ.
     Sao Thổ, cách Mặt Trời 9,5 AU, nổi tiếng vì hệ thống vành đai rộng của mình, có nhiều tính chất chung giống với Sao Mộc, như thành phần khí quyển, mặc dù khối lượng của nó nhỏ hơn nhiều, chỉ gấp 95 lần khối lượng Trái Đất. Hai trong số 49 vệ tinh của nó, Titan và Enceladus, có các dấu hiệu hoạt động địa chất, mặt dù chúng được tạo thành chính từ băng. Titan là vệ tinh duy nhất trong Hệ Mặt Trời có sự hiện diện của một khí quyển đáng kể.
     Sao Thiên Vương, cách Mặt Trời 16,9 AU, và Sao Hải Vương, cách Mặt Trời 30 AU, trong khi vẫn có nhiều đặc tính chung với các "ông khổng lồ khí" khác nhưng chúng giống nhau hơn so với Sao Mộc và Sao Thổ. Cả hai đều nhỏ, chỉ gấp 14 và 17 lần Trái Đất. Khí quyển của chúng chứa một phần trăm nhỏ hơn hydro và heli, và một phần lớn hơn "băng", như nước, amoniắc và mêtan. Vì lý do này một số nhà thiên văn cho rằng chúng thuộc đặc tính riêng của chúng, "các hành tinh kiểu Sao Thiên Vương", hay "các ông khổng lồ băng". Cả hai hành tinh đều có hệ vành đai tối và mỏng. Vệ tinh lớn nhất của Sao Hải Vương là Triton, có hoạt động địa chất.
     Vòng ngoài còn có các vật thể kiểu sao chổi có quỹ đạo kỳ lạ nằm trong vùng giữa Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, gọi là centaur. Centaur đầu tiên được khám phá là 2060 Chiron, đã được cho là sao chổi vì nó cho thấy một cái đuôi đang phát triển, hay đầu sao chổi, giống như các sao chổi thường thể hiện khi nó đến gần Mặt Trời.
2.8 Ngoài Hải Vương
     Vùng bên ngoài Sao Hải Vương chứa các thiên thể ngoài Hải Vương Tinh, phần lớn còn chưa được khám phá.
2.9 Vành đai Kuiper
      Sự biểu diễn tưởng tượng của vành đai Kuiper và xa hơn là đám mây Oort.
      Vùng này, thực tế bắt đầu bên trong quỹ đạo Sao Hải Vương, là một vành đai gồm những mảnh vỡ, giống với vành đai các tiểu hành tinh nhưng được tạo thành chủ yếu từ băng và rộng lớn hơn. Nó nằm ở khoảng giữa 30 AU và 50 AU tính từ Mặt Trời. Vùng này được cho là nơi khởi nguồn của những sao chổi ngắn hạn, như sao chổi Halley. Mặc dù người ta ước tính có khoảng 70.000 vật thể ở vành đai Kuiper có đường kính lớn hơn 100km, tổng khối lượng của vành đai Kuiper rất nhỏ, có lẽ tương đương hay hơi lớn hơn khối lượng Trái Đất.
     Nhiều vật thể ở vành đai Kuiper có quỹ đạo bên ngoài mặt phẳng hoàng đạo. Sao Diêm Vương được coi là một phần của vành đai Kuiper. Giống như những vật thể khác trong vành đai, nó có quỹ đạo lệch tâm nghiêng 17 độ so với mặt phẳng hoàng đạo và ở khoảng cách từ 29,7 AU ở điểm cận nhật đến 49,5 AU ở điểm viễn nhật. Các vật thể thuộc vành đai Kuiper có quỹ đạo giống với Sao Diêm Vương được gọi là thiên thể kiểu Diêm Vương Tinh. Một số vật thể có quỹ đạo tương tự nhau cũng được gộp thành nhóm. Những vật thể còn lại của vành đai Kuiper với các quỹ đạo "truyền thống" hơn, được xếp vào loại thiên thể ngoài Sao Hải Vương (Cubewanos).
    Vành đai Kuiper có một khoảng trống rất rõ ràng. Ở khoảng cách 49 AU, số lượng các vật thể được quan sát thấy giảm sút, tạo thành "Vách đá Kuiper" và hiện vẫn chưa biết nguyên nhân của nó. Một số người cho rằng một thứ gì đó phải tồn tại ở phía ngoài vành đai và đủ lớn tới mức quét sạch mọi mảnh vỡ còn lại, có lẽ lớn như Trái Đất hay Sao Hoả. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn gây tranh cãi.

Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/; Thể loại: Bài đang được viết | Hệ Mặt Trời (xem tiếp phần 2)

Hình ảnh trong bài tập vật lí


Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Hãy thay đổi cách học hỡi các tân sv

     Mới vào giảng đường, các tân sinh viên thường bị "sốc" trước cách học mới, không phải trả bài, không điểm danh. Xin mách bạn một số kinh nghiệm. Chỉ sau một nǎm vào đại học, bạn bè thời phổ thông không còn nhận ra T nữa. Anh chàng học giỏi nhất lớp ngày xưa, nay gầy còm, mặt phờ phạc, mắt trũng sâu vì thiếu ngủ. Ai hỏi đến, T cũng nhǎn nhó: Học ở đại học khó quá, không giống như ở phổ thông. Mình học mãi mà vẫn không hết bài. Vậy mà thi lại vẫn là điệp khúc triền miên.
     Chẳng riêng T, rất nhiều tân sinh viên chân ướt chân ráo vào đại học cũng mang nỗi niềm tương tự. Nào là chép bài không kịp vì thầy giảng nhanh quá, nào là "bị bắt" thảo luận, thuyết trình...
     Bao nhiêu nǎm rồi... còn mãi đi thi
    Tiết học đầu tiên của bất kỳ môn nào, thầy cô cũng liệt kê ra một danh sách dài dằng dặc sách tham khảo, kèm theo lời dặn dò đã trở thành kinh điển: "Những gì tôi trình bày trên lớp chỉ mang tính chung nhất, sơ lược nhất. Các em phải tự tìm hiểu thêm". Đôi khi, trước một bài mới, thầy cô buông ra một câu chắc gọn nghe cứ như phán quyết của toà án: "phần này các em về nhà tự nghiên cứu lấy. Có gì không hiểu thì hỏi lại sau". Sinh viên nhìn nhau, lè lưỡi và ... cười. Đặc biệt, sinh viên các ngành khoa học xã hội cứ rớt "lộp độp" vì kiểu đề thi "cho phép sử dụng tài liệu".
    Trong khi giới sinh viên vẫn thường truyền miệng nhau câu nói gần như chân lý :"Không thi lại phi thành đại học", thì giảng viên lại than phiền :"sinh viên mà như học sinh cấp bốn". Phải chǎng "lận đận" trường thi, lỗi chỉ do sinh viên?
    Đại học không phải là "học đại", học thuộc lòng
    Một thầy giáo chuyên toán ở trường đại học Quốc gia Hà Nội, đã từng đưa nhiều đoàn học sinh Việt Nam đi thi quốc tế, có lần lên tiếng báo động:"Học sinh Việt Nam đi thi quốc tế đạt giải cao rất nhiều nhưng sau đó, rất ít người trở thành nhà khoa học, có những công trình nghiên cứu hay phát minh sáng chế".
   Nǎm 1996, một cuộc điều tra xã hội học tại trường đại học KHXH&NV (TP. HCM) đã cho kết quả:"Sinh viên Việt Nam học rất chǎm, nhưng chỉ học để nhớ chứ không phải học để làm việc. Nguyên nhân do cách thức giáo dục chưa phù hợp". Vì sao? ở các nước phương Tây, từ nhỏ, học sinh đã được rèn luyện ý thức chủ động và tự giác trong việc học. Trường học luôn đề cao tinh thần độc lập, sáng tạo. Còn ở ta, ngay từ cấp tiểu học, học sinh đã được khuyến khích học thuộc lòng công thức, gọi nôm na là "học vẹt'. Kiểu học này xuất phát từ cách dạy phổ biến: thầy đọc, trò chép từng câu rồi học thuộc. Câu hỏi thường gặp là:"Các em thuộc bài chưa?". Nhưng lên đại học, thầy cô lại hỏi:"Các em hiểu chưa?". Phải thay đổi cách học thế nào để đại học không phải là "học đại"?
    Học thì dễ, phương pháp học mới khó.
    Bước vào cổng trường đại học, sinh viên nào cũng mang theo ước mơ về nghề nghiệp tương lai. Như vậy, học không chỉ để trả bài, để qua các kỳ thi. Quan trọng hơn cả, học để sau này ra đời làm việc.
    Bạn đừng tưởng cách hay nhất là cắm đầu cắm cổ học mọi lúc mọi nơi. Hà Thanh Vân, tốt nghiệp thủ khoa Ngữ Vǎn - Báo chí trường KHXH&NV khoá 1991-1995, cho rằng: "Thời gian nhiều hay ít không quan trọng, cần nhất là có phương pháp phù hợp với nǎng lực của mình". Vì thế, tuy quỹ thời gian cho việc học không nhiều, nhưng Vân luôn đứng đầu lớp. Bí quyết của Vân thật đơn giản: Phải bắt mình động não, tự đặt vấn đề bằng nhiều câu hỏi, và tìm cách trả lời những câu hỏi khó. Mặt khác, chị không bị áp lực phải đạt điểm cao, nên chỉ học lúc đầu óc thoải mái và khi học thực sự còn là niềm say mê.
     Những gợi ý về một phương pháp học
     Mỗi người có một kiểu tư duy, khả nǎng nhận thức vấn đề khác nhau. Bạn phải tự khám phá mình để tìm một phương pháp học hiệu quả nhất. Sau đây là một số kinh nghiệm:
* Đừng xem nhẹ các giờ học thực nghiệm, thảo luận, thuyết trình, dù bạn sẽ mất nhiều thời gian, công sức. Đó là bước đầu giúp ta quen dần những vấn đề thực tế, Yến, sinh viên trường Y, cho biết:"Lần đầu thực hành trên xác người thật, về nhà không nuốt nổi cơm. Nhưng cứ nghĩ sau này thành bác sĩ, phải tiếp xúc với bệnh nhân thật, thế là lại cố gắng....". Bạn thử tưởng tượng xem, nếu ngành Y chỉ "học chay", không thực hành nhiều thì e rằng các sinh viên Y, trước khi trở thành bác sĩ thực sự, hẳn sẽ làm nhiều bệnh nhân phải "oan mạng"
* Hãy trở thành con mọt sách", là câu nói được ghi ở đầu cuốn sách giáo trình của Nam Tiến, khoa Đông phương học. Nên đọc nhiều sách, tìm những quyển mới nhất để tiếp cận những kiến thức hiện đại, vì giáo trình ở trường thường cũ, có khi đã lạc hậu.
* Hãy từ bỏ thói quen học bài sau khi nghe giảng. Thay vào đó, hãy đọc bài trước khi đến lớp. Lắng nghe không đồng nghĩa với thụ động. Mạnh dạn nêu thắc mắc là cách giúp bạn thẩm thấu vấn đề sâu hơn mà không mất hàng giờ ôm giáo trình ê a. đây là cách phát huy tối đa khả nǎng tư duy độc lập và óc chủ động sáng tạo.
* Đừng để "nước đến chân mới nhảy", nếu lỡ nước lên cao, không kịp nhảy thì 99% là bạn chết đuối trong bể kiến thức. Nhưng cũng đừng cố gắng tǎng thời gian học bằng cách bớt thời gian ngủ. Cầu viện đến những vị cứu tinh như trà hay cà phê trước mỗi kỳ thi chỉ là giải pháp tình thế. "Mưa dầm thấm lâu", hãy học hàng ngày, dù chẳng có thầy co trả bài bạn bạn mỗi ngày.
    Có thể phương pháp của mỗi người không giống nhau, nhưng một điều mà bất kỳ sinh viên nào cũng buộc phải có: say mê, khao khát tìm hiểu. Bạn đừng quên, học hôm nay để làm việc cho ngày mai.



Bí quyết để có trí nhớ tôt

Thật khó xử khi gặp một người quen mà bạn lại nghĩ mãi không ra tên của người đó. Chỉ cần một vài bí quyết luyện trí nhớ là bạn có thể nhớ ngay những việc cần ghi nhớ.



1- Hãy nhìn cho kỹ:
    Đó là tiền đề cho một trí nhớ tốt: Bạn hãy học cách quan sát thật kỹ. Hãy chú ý tới hình ảnh nhiều hơn trong tạp chí, sách vở và trong cuộc sống. Hãy cố nhớ tới từng chi tiết lặt vặt. Chính cách chi tiết lặt vặt đó mới là quan trọng.

2- Liên tưởng một cách có hình ảnh:
    Hồi còn đi học, bạn sẽ không tìm được thấy nhanh vị trí nước Italia trên bản đồ địa lý nếu không liên tưởng hình dáng nước Italia giống như một chiếc giày ủng. Đối với những tên người như Huê, Lan, Sửu... thì dễ dàng tạo ra trong đầu bạn một hình ảnh mà bạn liên tưởng.

3- Tập trung vào tiếng động:
    Hãy nhắm mặt lại và để ý tới tiếng động. Bạn nghe thấy gì? Khi nghe bạn cảm nhận được gì? Hãy xác định nguồn gốc tiếng động đó và hình dung một cuốn phim hấp dẫn trong đầu bạn. Hãy liên tưởng tới một giọng phát thanh viên quen thuộc trên truyền hình hay trong radio.

4- Gắn liền con người với hoàn cảnh
    Tìm cách gắn liền con người với hoàn cảnh cụ thể. Thí dụ: Ta đã nhìn thấy con người này lần đầu tiên ở đâu? Lúc ấy anh ta ǎn mặc như thế nào?

5- Tách tên người ra thành những từ độc lập
    Nếu bạn cảm thấy cái tên khó nhớ, hãy viết nó ra và phân tích cái tên ấy làm nhiều từ rồi so sánh một cách hài hước. Thí dụ: đối với những tên Tây như Lorayne: Lỡ ra ị nè, Holzweis: Hôn xờ vai.

6- Tǎng tốc độ.
    Lấy một bài báo rồi đánh dấu tất cả các chữ "b", cành nhanh càng tốt. Sau đó từ từ kiểm tra lại xem bạn đã bỏ sót mất bao nhiêu chữ. Hãy luyện bài tập này vài ngày liền rồi bạn sẽ thấy, chỉ sau một thời gian ngắn bạn đã có thể đạt được kết quả tốt. Bài tập này bạn cũng thể làm vào lúc chờ đợi.

7- Thiết kế bộ "Số-Hình ảnh"
    Thông thường người ta nhớ con số dễ dàng hơn nếu chia nó ra thành từng nhóm hai số. Hoặc là trong một con số cần nhớ vô tình giống số bạn đã thuộc như ngày sinh hay một số nhà quen thuộc nào đó. Đối với những con số dài bạn áp dụng biện pháp "Số=Hình ảnh". Có rất nhiều nhà quản lý người Mỹ đã làm việc rất tốt với hệ thống này.
(st)

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2010

5 sự kiện khoa học tiêu biểu của thế kỷ 20

1- Sự ra đời của máy bay.
        Mười giờ ba mươi phút, ngày 17 tháng 12 nǎm 1903, tại vùng đồng bằng Kiti Howk thuộc bang bắc Calolina (Mỹ), hai anh em nhà Wright Orvilli và Wright Wribus cho bay thử chiếc máy bay đầu tiên mang tên "người bay".
        Trong chuyến bay thử đầu tiên đó "người bay" đã nhấc mình khỏi mặt đất và bay cao 36 mét so với mặt đất. "Người bay" được anh em nhà Wright chế tạo là một máy bay phát động chạy xǎng bốn xilanh, 12 mã lực, nặng hơn 70 kg. Máy bay gồm có hai cánh, khung gỗ nhẹ và may bằng vải buồm. "Người bay" dùng lực nâng bằng cánh hai tầng, bánh lái có thể điều khiển lên xuống và rẽ trái, rẽ phải. Máy bay phát động chạy xǎng làm bánh quay chân vịt (cánh quạt).
        Sau khi thử nghiệm thành công, anh em nhà Wright tiếp tục cải tiến, mấy nǎm sau họ biểu diễn ở Pháp. Lần này họ đã bay liên tục được hai giờ, ba mươi phút, hai mươi ba giây trước đông đảo công chúng. Khác với lần thử nghiệm ngày 17 tháng 12 nǎm 1903, chỉ có nǎm người xem, trong đó có một trẻ em.

2- Thời đại ghi hình.
       Nǎm 1927, bộ phim đầu tiên có tiếng động trong lịch sử điện ảnh thế giới được trình chiếu trước công chúng Mỹ. Đó là bộ phim "The zazz Singer" (Ca sĩ nhạc zazz) của công ty sản xuất phim Warner Brother Pictures. Từ đây bắt đầu cho thời đại ghi hình phát triển.
       Mặc dù được bắt đầu từ những nǎm 1860, từ kỹ sư Xelet (Hollywood) đến Hai-nơ, Eđixơn, Laynie... nhưng thời đại phim câm. Chỉ đến khi "The zazz Singer" ra đời thì thế giới bước vào thời đại ghi hình, truyền hình và điện ảnh. Theo thống kê, những nǎm 30 ở Mỹ, mỗi tuần số người đến xem phim đã lên tới 110 triệu.

3- Thời đại nguyên tử.
       Ngày 16 tháng 7 nǎm 1945, khi cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai đi vào giai đoạn cuối cùng, thì tại bang New Mêhicô (Mỹ) Mỹ đã cho nổ thử quả bom nguyên tử đầu tiên thành công.
       Ngày 6 tháng 8 nǎm 1945, máy bay B29 do Thượng tá phi công Mỹ Đi-be-dơ lái mang theo quả bom nguyên tử dài 8,05 mét có tên là "Thằng gầy" đã thả xuống thành phố Hirosima của Nhật Bản vào lúc 8 giờ 15 phút đã phá huỷ 60% công trình xây dựng và giết chết 10 vạn người.
       Ngày 9 tháng 8, vào lúc 11 giờ 1 phút, thiếu tá không quân Mỹ Xvêni lái máy bay ném quả bom nguyên tử thứ hai dài 3,3 mét xuống Nagasaki.
       Nǎm 1945 được coi là nǎm khởi đầu của thời đại nguyên tử. Mà bom nguyên tử có "cha đẻ" chính là Julius Robent Oppenheiner nhà vật lý người Mỹ kế thừa và tiếp tục thành quả của Fec-Mi.
       Ngoài sức công phá mãnh liệt dùng làm bom nguyên tử, nǎng lượng nguyên tử cũng được dùng vào một số mục đích hoà bình khác: Sử dụng trong y học: chuẩn đoán bệnh, trong điều tra, kiểm tra...

4- Thời đại máy tính.
       Tháng 2 nǎm 1940 E-cat-tơ và Mo-ri-xơ trường Đại học Pensy Ivania đã dùng máy tính điện tử thay thế máy tính cơ. Các ông đã chế tạo ra máy tính điện tử đầu tiên trên thế giới cho lục quân Mỹ.
       Thời gian qua đi, càng ngày người ta càng tìm cách cải tiến máy tính. Cứ 10 nǎm lại thay đổi một thế hệ. Máy tính không những tính nhanh mà còn vận dụng vào nhiều lĩnh vực khác: Trong Y học (chẩn đoán bệnh). Cảnh sát dùng để điều tra tội phạm. Những người làm nghệ thuật có thể dùng máy tính để sáng tác... Cuộc cách mạng máy tính đã làm thay đổi cuộc sống loài người một cách sâu sắc. Người ta gọi đó là "cách mạng thông tin", "Làn sóng thứ ba" hoặc "cuộc cách mạng lần thứ tư".

5- Thám hiểm vũ trụ.
       Tháng 8 nǎm 1958, nhà khoa học người Nga Kha-rô-mốp đã cho ra đời quả vệ tinh nhân tạo đầu tiên và một loạt các thí nghiệm kh nhau: Đưa chó vào vũ trụ, đưa chuột, hạt giống thực vật... để chứng tỏ một điều rằng: Con người có thể sống trên không.
       Ngày 12 tháng 4 nǎm 1961 là ngày quan trọng nhất trong lịch sử chinh phục vũ trụ của nhân loại. Nhà du hành vũ trụ Liên Xô Ga-ga-rin đã lái con tàu vũ trụ mang tên "Phương Đông 1" bay vào vũ trụ, vòng quanh trái đất 180 phút rồi quay lại trái đất.
       Tháng 8 nǎm 1961, Ti-cốp (người Liên Xô) lái tàu "Phương Đông 2" bay vào vũ trụ với thời gian là 25 giờ.
       Ngày 16 tháng 7 nǎm 1969, ba nhà du hành vũ trụ người Mỹ trên con tàu vũ trụ mang tên "Apolo II" để quan sát mặt trǎng. Vào lúc 4 giờ 18 phút ngày 20 tháng 7 nǎm 1969 người Mỹ đầu tiên đã đặt chân lên mặt trǎng, đó là Amu-xtan; Ooc-đơ-lin; Kha-rin-xơ.
        Ngày 27 tháng 7 nǎm 1969, tàu "Apolo II" đã an toàn trở về trái đất. Từ 1969 đến 1972 tầu "Apolo II" của Mỹ đã lên mặt trǎng 7 lần (thất bại 1 lần) và từ 1972 đến nay Liên Xô và Mỹ đã tiến hành thǎm dò các hành tinh sao Kim, sao Hoả, sao Mộc...
       Nǎm 1981, máy bay vũ trụ của Mỹ lần đầu tiên bay thành công. Loại máy bay này có thể sử dụng nhiều lần có nhiều chức nǎng như: Phóng vệ tinh nhân tạo và chở khách...
(Báo Người Hà Nội)